TRỊNH KẾ VĂN: ĐÃ ĂN CƯỚP CÒN NGỤY BIỆN!

21:32 13 Comments
Đò Ngang - Tờ ifeng của tập đoàn truyền thông đa phương tiện Phượng Hoàng, Hồng Kông có quan điểm thân Bắc Kinh ngày 30/1 dẫn lời bình của Trịnh Kế Văn, một học giả từ Đài Bắc, Đài Loan cho rằng: "Việt Nam cải tạo sớm nhất ở Trường Sa và bố trí cả trọng pháo, Trung Quốc bị buộc phải ứng phó". Theo học giả họ Trịnh đây là cái cớ để Trung Quốc tiến hành các hoạt động xây đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa.
 
Trịnh Kế Văn
Theo Trịnh Kế Văn việc Đài Loan và Trung Quốc  tiến hành các hoạt động xây đắp (bất hợp pháp) ở Trường Sa là hoạt động bình thường để đáp trả hành động của Việt Nam và philippines.

Ông Văn bình luận: Thực ra Việt Nam mới là nước đầu tiên tiến hành kiên cố hóa công sự ở Trường Sa, hơn nữa còn đưa cả trọng pháo ra khu vực này cùng một số lượng lớn binh lực. Philippines cũng theo sau Việt Nam tiến hành cải tạo, hiện đại hóa nơi đồn trú quân trên một số điểm đảo ở Trường Sa, do đó việc Đài Loan và Trung Quốc cải tạo, xây dựng (bất hợp pháp) ở Trường Sa là "phản ứng trả đũa" với hoạt động của các nước khác ven Biển Đông?!

Lý luận của Trịnh Kế Văn thật nực cười, khi đánh đồng giữa chủ nhà (Việt Nam) và quân ăn cướp (Trung Quốc). Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền hợp pháp, không thể tranh cãi của Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định điều này. Trung Quốc đã 3 lần cất quân thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và 8 bãi đá, rặng san hô ở Trường Sa một cách bất hợp pháp. Đài Loan đang chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình của Việt Nam.

Là một bộ phận thuộc lãnh thổ Việt Nam, đương nhiên Việt Nam có quyền tiến hành mọi hoạt động nhằm củng cố năng lực phòng thủ của mình ở Trường Sa, giống như việc xây dựng trên đất của mình vậy. Điều này không có gì phải bàn tán! Thật nực cười khi mang tiếng là một học giả học nhiều mà Trịnh Kế Văn lại lấy đó làm cái cớ để Trung Quốc  biến một số điểm cắm chân phi pháp ở Trường Sa thành căn cứ điểm quân sự chiến lược đe dọa các nước ven Biển Đông.


Ông Trịnh Kế Văn còn cho rằng, vì Bắc Kinh lắm tiền và có ưu thế về kỹ thuật nên hoạt động cải tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa mới vượt qua các nước khác ở Biển Đông rất nhiều. Các căn cứ khi xây dựng xong sẽ trở thành con bài quan trọng trong đàm phán các vấn đề liên quan đến Biển Đông và hành động của Bắc Kinh phù hợp với cái gọi là "nhu cầu thực tiễn" cũng như "mục đích lâu dài" của Bắc Kinh (là nuốt trọn Biển Đông)!

85 NĂM ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM: NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ!

16:13 3 Comments
Huyền Vũ - Trải qua 85 năm, Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được những thắng lợi rất vẻ vang, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội; mở ra thời đại mới: thời đại Hồ Chí Minh. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: là cả một pho lịch sử bằng vàng.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/2930) là bước ngoặt quyết định cách mạng việt nam.

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang chìm trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Trên con đường bôn ba khắp năm châu, bốn biển, Người vừa lao động, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản trên thế giới và tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, sau đó trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Người đã từng bước rút ra nhiều bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam. Cách mạng muốn thành công phải có một đảng lãnh đạo. Từ đó, Người đã gấp rút chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự ra đời một chính đảng tại Việt Nam để lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm cách mạng.

Từ ngày 6/1 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp(Đông Dương Cộng sản Đảng,  An Nam Cộng sản Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) đã diễn ra tại Cửu Long (Hương cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng...

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đây là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định: cách mạng việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.

2. Đảng ra đời, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (1930 – 1945)

Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cách mạng cứu nước đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai tầng trong xã hội, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.
Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng, trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh, Đảng từng bước vận động, giáo dục quần chúng, qua ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936- 1939, 1939- 1945) như ba cuộc tổng diễn tập cách mạng, với khí thế cách mạng vĩ đại của quần chúng, nắm chắc thời cơ lịch sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổ chức khởi nghĩa tài tình, Đảng ta lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập tự do, dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” .

3. Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn gian khổ của thời kỳ đầu thành lập nước, đánh đuổi thực dân Pháp, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội (1945 – 1954).

Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đối mặt với ba thứ giặc hung dữ: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nạn đói hoành hành đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào chết đói; trên 95% dân Việt Nam mù chữ; miền Bắc hơn 20 vạn quân Tưởng, miền Nam trên 15 vạn quân Pháp lăm le xâm lược nước ta. Trong khi đó, lực lượng mọi mặt của Nhà nước ta còn rất non yếu: vận mệnh của đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”. Song, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đối với các thế lực thù địch, chúng ta thực hiện sách lược mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn, phân hóa chúng, giành thời gian củng cố lực lượng chuẩn bị kháng chiến. Với đường lối chính trị sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, Đảng ta đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân, triệu người như một, vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm tưởng như không qua được, củng cố, giữ vững chính quyền cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.
Bất chấp nguyện vọng của nhân dân ta và mặc dù chúng ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp vẫn không từ bỏ dã tâm cướp nước ta lần nữa. Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới.

Lich sử đã đặt dân tộc ta trước một thử thách gay go mới, phải đứng lên bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi, nhân dân cả nước quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”... Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mạnh là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (tháng 5-1954) mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn không tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân.

Đánh giá ý nghĩa thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”. Thắng lợi đó làm sáng tỏ một chân lý:... “trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù là nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác-Lênin để giành độc lập và dân chủ, thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Thắng lợi đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đường lối cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân thù và giành tự do, độc lập”.

4. Đảng lãnh đạo nhân dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 – 1975).

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm là đất nước tạm chia làm hai miền với hai chế độ chính trị- xã hội đối lập nhau. Con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam như Đảng ta xác định là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược:

Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước.

Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.

Tuy mỗi miền thực hiện một chiến lược khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển cách mạng Việt Nam. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vị trí quan trọng có tác dụng trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhân dân cả nước ta tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quyết “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong cuộc đọ sức quyết liệt này, đế quốc Mỹ đã huy động và sử dụng một lực lượng quân sự và phương tiện chiến tranh khổng lồ hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng nước ta. Song, trải qua 21 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu kiên cường, lại được sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đã lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi oanh liệt mùa xuân năm 1975 mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX. Chiến thắng mùa xuân 1975đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước; bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, mở ra thời kỳ mới- thời kỳ độc lập thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

5. Đảng lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, vượt qua mọi khó khăn thách thức, đập tan âm mưu xâm lược của ngoại bang, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc (1975 – 1986).

Bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam có không ít khó khăn, mà khó khăn lớn nhất là nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, hậu quả chiến tranh để lại nặng nề. Chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động luôn tìm mọi cách phá hoại. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã và đang trải qua nhiều diễn biến phức tạp; chủ nghĩa xã hội thế giới gặp phải những khó khăn, thử thách lớn, lâm vào khủng hoảng, thoái trào, đặc biệt từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Quá trình đó đã tác động, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn trở ngại, thu được những thành tựu quan trọng. Chúng ta đã nhanh chóng hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa- xã hội, nhân dân ta đã có những cố gắng to lớn trong công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu bình ổn sản xuất và đời sống nhân dân. Chúng ta tập trung sức bắt tay xây dựng nhiều công trình kinh tế trọng điểm: đường sắt Bắc- Nam, thủy điện Hòa Bình, xi măng Hoàng Thạch, cầu Thăng Long... Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế- xã hội còn thấp so với yêu cầu kế hoạch và công sức bỏ ra, nền kinh tế có mặt mất cân đối nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát cao quá mức, cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội ngày càng gay gắt.

6. Đảng lãnh đạo Nhà nước và nhân dân tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước và đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử (1986 -2015)

Trải qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử . Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển nhanh theo hướng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đất nước không những đi ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội mà còn vượt qua được những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực những năm 1997 - 1998 và cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay. Trong hoàn cảnh khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế trên quy mơ thế giới, Việt Nam vẫn tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, năm 2008 đạt thu nhập bình quân đầu người trên 1.000 đô-la, vượt qua ngưỡng một nước chậm phát triển, năm 2009 tăng trưởng kinh tế đạt 5,32%, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể. Tỉ lệ các hộ nghèo đói giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 12,3% năm 2009. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Đó là sự nỗ lực phi thường của toàn thể nhân dân, của Đảng, Nhà nước ta. Cần nhấn mạnh, từ thực tiễn phong phú và sáng tạo của công cuộc đổi mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.”

Chặng đường vẻ vang 85 năm qua của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định: Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta cũng còn có những yếu kém, có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là Đảng sớm phát hiện ra những sai lầm, khuyết điểm của mình, đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời. Đảng công khai tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Vì vậy, Đảng vẫn được nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng ta là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc. Ở nước ta, ngoài Đảng Cộng sản không lực lượng nào có thể lãnh đạo cách mạng.


Ôn lại lịch sử và truyền thống của Đảng không phải chỉ để tự hào về Đảng mà quan trọng hơn là góp phần giữ vững, kế thừa và phát huy những truyền thống của Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, có đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm đòi hỏi của thời đại mới, đưa ngọn cờ vinh quang của Đảng lên tầm cao mới.

TẠI SAO PHẢI GIỮ NGUYÊN ĐIỀU 4 TRONG HIẾN PHÁP!

10:06 7 Comments
Mực tàu - Kể từ khi Hiến pháp năm 1992 được ban hành cho đến nay đã hơn hai thập kỷ. Hai thập kỷ qua cũng chỉ ra rằng, từ khi Đảng ta ra đời cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chưa bao giờ các thế lực thù địch từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhằm gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Một trong những luận điệu tuyên truyền mà chúng đưa ra là: Hiến pháp các năm 1946 và 1959 không có điều nào quy định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Đảng vẫn lãnh đạo nhân dân đánh thắng thực dân đế quốc xâm lược và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thì cũng không nhất thiết phải xác nhận lại vai trò lãnh đạo của Đảng như trong Hiến pháp hiện tại! Vậy, lập luận của các thế lực thù địch và bọn phản động có đúng hay không? Tại sao chúng ta phải giữ quy định tại Điều 4 như trong Hiến pháp hiện nay.

Trước hết bàn về luận điệu của bọn phản động và các thế lực thù địch đưa ra. Phải khẳng định luận điệu này là lập lờ, thiếu toàn diện, không có quan điểm lịch sử cụ thể.

Sở dĩ Hiến pháp năm 1946 không có quy định vai trò lãnh đạo của Đảng, vì trước đó ngày 11-11-1945, thời điểm lịch sử do tình thế đặc biệt của cách mạng, Đảng ta đã ra tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo.

Trong những năm thập niên 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ nhảy vào can thiệp miền Nam, đất nước ta bị chia cắt, Đảng bộ miền Nam cũng chưa ra hoạt động công khai vì bộ luật 10-59 của ngụy quyền Sài Gòn nhằm “tiêu diệt Cộng sản” cực kỳ hà khắc, man rợ. Vì vậy, Hiến pháp năm 1959 cũng chưa thể đề cập nhiều đến vai trò lãnh đạo của Đảng.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, dân tộc ta có chung một bản Hiến pháp mới, trong đó khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này là tất yếu khách quan, phù hợp với yêu cầu lịch sử, nhiệm vụ cách mạng mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và thực hiện đúng cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
 

Kế thừa tinh thần Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, và mới nhất là Hiến pháp 2013 tiếp tục  khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Điều 4 Hiến pháp 2013 xác định: "1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Vậy tại sao chúng ta phải giữ nguyên Điều 4 trong Hiến pháp?

Lập luận trên cũng đã phần nào trả lời cho thắc mắc này, nhưng bên cạnh đó cũng không thể không nói đến những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị-xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn, phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Khác với những quan điểm tư sản, sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Hiến pháp năm 1992 chính là khẳng định Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự thể hiện ý chí, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Ý chí, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và cả dân tộc, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp năm 1992 chính là thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Đây là điểm khác nhau căn bản giữa Hiến pháp nước Việt Nam với hiến pháp của các nước tư bản chủ nghĩa. Các thế lực thiếu thiện chí đã cố tình lờ đi bản chất, chỉ lấy hiện tượng và vin vào đó để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ, hòng xóa bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Và như vậy, vấn đề vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được ghi trong Hiến pháp, không chỉ đơn giản là “văn bản hóa” mà còn thể hiện thái độ công khai tuyên bố tính đảng, tính giai cấp trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thứ hai, quy định tại Điều 4 của Hiến pháp tái này khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. Đất nước ta phát triển như hiện nay không thể không nhắc đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn của đất nước, nhân dân ta vẫn kiên trì đi theo sự lãnh đạo của Đảng, với kim chỉ nam là tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Vì vậy, việc giữ nguyên Điều 4 của Chương I trong Hiến pháp là hoàn toàn đúng đắn.

Thứ ba, việc quy định sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam là phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam. Đối với nhân dân Việt Nam, nói đến Đảng là nói đến tình cảm thiêng liêng, là thể hiện niềm tin và tình yêu son sắt của nhân dân dành cho Đảng. Có một sự thật mà hầu như mọi người Việt Nam ai cũng biết, đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 26 năm thực hiện đường lối đổi mới vừa là minh chứng thực tiễn sinh động, vừa là cơ sở khoa học thực tiễn để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Rõ ràng quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam trong Hiến pháp là tất yếu, không thể thay đổi.


HIỂU THẾ NÀO VỀ ÂM MƯU XÓA BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP CỦA CÁC NHÀ “DÂN CHỦ”!

13:50 42 Comments
Đò Ngang - Từ khi ra đời (ngày 03/02/1930) đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là lực lượng lãnh đạo và đóng vai trò quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với những thành tựu đã cùng nhân dân Việt Nam đạt được, Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và xã hội Việt Nam đã liên tục được quy định cụ thể trong các bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiếp pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là một thực tế lịch sử không gì có thể thay đổi được.
 

Tuy nhiên, các nhà tự xưng là “dân chủ” và các thế lực thù địch với Việt Nam không ngừng xuyên tạc, bóp méo sự thật đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Chúng liên tục tuyên truyền, kích động nhân dân, đưa yêu sách, gây áp lực lên Đảng, Nhà nước đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới danh nghĩa đem lại tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Vậy, tại sao các nhà “dân chủ” tự xưng cùng các thế lực thù địch lại muốn xóa bỏ điều 4 của Hiến pháp!

Thứ nhất, chúng muốn phủ nhận những thành quả mà Đảng Cộng sản Việt Nam cùng toàn thể dân tộc Việt Nam đã giành được trong hơn 80 năm qua.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử, có thể kể đến là:

- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

- Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Những thành tựu đó không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả thế giới đều ghi nhận. Với những thành tựu đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đương nhiên trở thành lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, những kẻ tự xưng mình là nhà “dân chủ” lại cố tình bóp méo, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chúng muốn làm hạ uy danh của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo ra cái nhìn “bằng phẳng” đối với Đảng Cộng sản dưới con mắt của mọi người. Điều này tạo tiền đề cho việc hạ bệ Đảng Cộng sản Việt Nam tạo đường cho một tổ chức chính trị khác lên thay thế.

Thứ hai, chúng muốn hợp pháp hóa sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam tiến lới hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Hiến pháp Việt Nam chỉ công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam mà không chấp nhận bất cứ một tổ chức chính trị nào khác nắm quyền lãnh đạo. Do vậy, muốn hình thành một tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam thì các nhà “dân chủ” và các thế lực thù địch phải tìm cách tác động đòi xóa bỏ điều 4 của Hiến pháp. Nếu Điều 4 của Hiến pháp vẫn còn thì âm mưu của chúng dù có nham hiểm nhưng cơ hội thành công là không thể có.

Một khi thực hiện được âm mưu của mình, các thế lực thù địch và các nhà “dân chủ” ngang nhiên mặc sức thích thành lập bao nhiêu các tổ chức chính trị đối lập cũng được. Điều này sẽ tạo hành lang pháp lý cho sự ra đời các tổ chức này công khai đấu tranh với Đảng Cộng sản. Lúc này dưới tác động của các thế lực thù địch bên ngoài, chúng sẽ dễ dàng chuyển hóa Việt Nam bằng các cuộc “cánh mạng màu”, “cách mạng da cam”, “cách mạng đường phố”, cái cách mà chúng đã từng làm với một số nước Đông Âu thời gian qua.

Như vậy, rõ ràng việc đòi xóa bỏ điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chỉ là một trong những âm mưu mà các thế lực thù địch và các nhà “dân chủ” thực hiện nhằm đạt mục đích cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Hiểu rõ về âm mưu của các thế lực thù địch và các nhà “dân chủ” để chúng ta đề cao cảnh giác, bảo vệ Đảng, tích cực đấu tranh ngăn chặn không để cho chúng thực hiện được ý đồ đen tối đó.





TÌM HIỂU QUY ĐỊNH VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP

09:56 3 Comments
Mực tàu - Từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 gắn liền với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, đã có 5 bản Hiến pháp được ban hành, đó là Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ súng năm 2001) và Hiến pháp 2013. Mỗi bản Hiến pháp ra đời là đáp ứng yêu cầu của một giai đoạn cách mạng mới, là nguyện vọng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chuẩn bị hướng tới kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta hãy cùng tìm hiểu quy định về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các bản Hiến pháp này.
 

Ngày 3-9-1945, một ngày sau Lễ Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong sáu nhiệm vụ cấp bách khi đó là bầu cử Quốc hội và soạn thảo Hiến pháp khẳng định cơ sở hiện thực và pháp lý của Nhà nước Việt Nam độc lập. Người nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị  Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống,v.v..”.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 diễn ra trên cả nước và bầu ra 333 đại biểu Quốc hội khóa I. Trong tiếng súng kháng chiến chống xâm lược, nhân dân Nam Bộ vẫn hăng hái đi bầu những đại biểu của mình và thực hiện quyền làm chủ đất nước và nhiều đồng chí, đồng bào đã anh dũng hy sinh trong ngày bầu cử. Ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I khai mạc Kỳ họp thứ nhất thành lập Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Nhiệm vụ soạn thảo Hiến pháp bắt đầu được đẩy mạnh dưới sự chỉ đạo của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngày 31-10-1945, Chính phủ đã công bố trên báo Cứu quốc bản Dự thảo Hiến pháp để đồng bảo cả nước tham gia xây dựng Hiến pháp.

Ngày 9-11-1946, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Hiến pháp gồm Lời nói đầu, 7 chương, 70 điều. Ngay tại Điều 1, Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Trong hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ, việc đặt ra thể chế này thể hiện sự sáng tạo tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta. Do vậy, mặc dù trong Hiến pháp năm 1946, không có quy định nào cụ thể về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng vai trò của Đảng của Hồ Chí Minh vẫn luôn được khẳng định bằng việc thông qua bản Hiến pháp lịch sử năm 1946 và những việc làm cụ thể khác.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Theo nhận định của Đảng, Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa- một chế độ dân chủ mới thì cần phải có một Hiến pháp mới. Chính vì lẽ đó, Hiến pháp năm 1959 được thông qua ngày 31/12/1959, gồm 10 chương, 112 Điều, đây là bản Hiến pháp mang nhiều dấu ấn của việc tổ chức nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở bản Hiến pháp này, mặc dù cũng chưa có một điều riêng hiến định sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội nhưng khác với Hiến pháp năm 1946, vai trò của Đảng đã được khẳng định rõ trong Lời nói đầu: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới, cuộc đấu tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của nhân dân ta chống ách thống trị của đế quốc và phong kiến đã giành được thắng lợi vĩ đại…Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà”. Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định: Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc hoạt động của Đảng được hiến định trong Hiến pháp 1959: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ” (Điều 4).

Chiến thắng lịch sử 30/4/1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã mở ra thời kỳ đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ cách mạng mới, tại kỳ họp thứ 7 ngày 18/12/1980, Quốc hội khóa VI đã thông qua bản Hiến pháp 1980. Khác với hai bản Hiến pháp trước đó, đến Hiến pháp năm 1980, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được quy định cụ thể bằng một điều của Hiến pháp. Tại Điều 4, Hiến pháp 1980 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”. Đây chính là sự ghi nhận của nhân dân đối với quá trình đấu tranh oanh liệt và vẻ vang của Đảng vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mang lại đời sống tốt đẹp cho nhân dân.

Trong thời kỳ đổi mới, để thể chế hóa đường lối của Đảng, nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VII đã thông qua Hiến pháp mới (Hiến pháp 1992) ngày 15-4-1992 với 12 chương, 147 điều. Một trong những quan điểm chỉ đạo việc xây dưng Hiến pháp năm 1992 là tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều 4 Hiến pháp 1992 đã có những bổ sung quan trọng, đầy đủ, làm rõ và sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Nếu đối chiếu với nội dung điều 4 Hiến pháp năm 1980 thì quy định này đã hàm súc và hoàn thiện hơn cả về nội hàm và cách diễn đạt. Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2001 với điểm mới căn bản là sự khẳng định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi. Cương lĩnh và các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước ta trong giai đoạn cách mạng mới. Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là rất cần thiết để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế. Ngày 28/11/ 2013, với tỷ lệ phiếu tán thành khá cao (97,59%), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp (sửa đổi) – Hiếp pháp 2013.  Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ được tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp mới mà sự hiến định ấy con được làm sâu sắc và toàn diện hơn. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Quy định của Hiến pháp năm 2013 là kế thừa quy định tại điều 4 Hiến pháp 1992, đồng thời bổ sung quy định làm rõ bản chất của Đảng theo tinh thần mới của Cương lĩnh. Chính do bản chất và nền tảng tư tưởng đó nên nhân dân mới thừa nhận vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng và được tiếp tục ghi nhận long trọng vào Hiến pháp năm 2013.


Như vậy trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng liên tục từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, các bản Hiến pháp đều gián tiếp hoặc trực tiếp ghi nhận, thừa nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Đây là một thực tế mà không gì có thể thay đổi.

BIẾT MÀ VẪN LÀM .... CỐ QUÁ - QUÁ CỐ

09:10 11 Comments
[Kin Kin]
Clip vui, clip hài, ảnh chế, bài đánh giá công nghệ, đánh giá sản phẩm, vlog, trang chuyên tin thể thao, download phần mềm, download film ca nhạc, tin nóng ....
Trên các trang mạng hiện nay xuất hiện tràn lan những trang cá nhân, kênh youtube ... của các cá nhân, công ty chuyên về những nội dung trên. Và tất cả những trang tin trên đều có một điểm giống nhau đó là "free" đối với mọi người. Người dùng bị thu hút bởi nội dung của các trang tin nay phần vì nó mang đậm tính giải trí, phần vì nó có tít giật gân, nội dung được nhiều người quan tâm, thông tin luôn cập nhật và nóng hổi.
Nhưng rồi cũng theo quy luật chung ... không ai làm không công cả !
Sau một thời gian gây được uy tín, thu hút được sự quan tâm của nhiều người dùng, những trang web này bắt đầu chấp nhận những gói hợp đồng quảng cáo.
Quảng cáo kéo theo nội dung là điều không còn lạ và cũng là hợp lý. Không chỉ ở Việt Nam mà xu thế này đã có rất nhiều trên thế giới.
Các bloger nổi tiếng, trang tin nổi tiếng thế giới đều tiến hành quảng cáo khi thu được một lượng view lớn ở mức độ nhất định. 
CHẶN QUẢNG CÁO ĐÃ TRỞ THÀNH 1 NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÙNG INTERNET
Tuy nhiên điều đáng nói ở đây đó chính là câu chuyện cũ mà vẫn còn mới ... điều gì cũng có giới hạn của nó.
Hiện nay, một số trang web mỗi khi người dùng truy cập vào để đọc tin, xem clip, lấy link download thì đập ngay vào mắt người sử dụng là một loạt các flash nội dung quảng cáo, nhiều khi các flash quảng cáo che gần hết nội dung của trang tin. Muốn xem được nội dung chính của trang tin, người sử dụng phải đóng không biết bao nhiêu nội dung quảng cáo.
Các flash quảng cáo nội dung thường to nhưng nút tắt thì rất nhỏ và khó bấm chính xác. Mục đích khi tạo ra những flash này đó chính là để gây khó khăn cho người dùng khi muốn tắt các flash quảng cáo, thường thì người dùng sẽ ấn không trúng vào nút tắt của các flash quảng cáo và nhầm sang một link dẫn để trang quảng cáo không mong muốn.
Thô hơn chút là các flash chỉ cho phép tắt hoặc bỏ qua trong một thời gian nhất định thường là sau 15s nhưng cá biệt lên đến 1 phút ... Gặp phải trường hợp này người dùng phải lựa chọn một là không xem nội dung cần quan tâm nữa hai là phải xem cho hết đoạn flash quảng cáo ....
Thiết nghĩ bỏ công bỏ sức ra để tạo ra một web có uy tín thực sự là rất khó nhưng nếu cứ lạm dụng quảng cáo để thu lợi quá đáng như vậy chắc hẳn người dùng cũng sẽ thấy khó chịu mà từ bỏ các trang web quảng cáo quá lố như vậy.
Có nhiều cách để quảng cáo một cách khéo léo, tế nhị thể hiện sự tôn trọng người dùng của các trang web đáng để tham khảo như lồng ghép nội dung quảng cáo vào nội dung video, đưa flash quảng cáo nhỏ nhưng có nội dung cô đọng xúc tích, có đầu tư kỹ lưỡng về hình ảnh để thu hút người xem ...
Làm gì cũng vậy, cần đầu tư mới có kết quả cao, muốn quảng cáo đạt hiệu quả thì nội dung của những flash cũng nên được đầu tư xứng đáng, nếu không những quảng cáo "khó chịu" sẽ gây ra sự khó chịu cho người xem và ấn tượng xấu đối với sản phẩm được quảng cáo !!!!

Lê Công Định: Cái lưỡi không xương!

21:53 1 Comment
Lê Công Định
Một hôm, có học trò mới hỏi thầy. Thưa thầy, người ta thường nói: “phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Câu nói này ý nghĩa của nó như thế nào? Con chưa hiểu rõ, kính xin thầy hoan hỷ giải thích cho con được rõ.

Thầy đáp: Lời nhắc nhở khuyên răn này là cả một kinh nghiệm già dặn trong việc giao tiếp xử thế của người xưa. Bởi người xưa rất am hiểu và rất sợ cái lưỡi không xương của con người. Chính vì nó không xương nên nó mới có nhiều đường lắt léo. Nó muốn uốn như thế nào cũng được. Nó uốn xuôi cũng được mà uốn ngược cũng hay. Khi có cảm tình với ai, thì nó uốn theo ý muốn của người đó. Có khi vì muốn được quyền lợi riêng tư nào đó, thì nó uốn cong theo kiểu ton hót nịnh bợ. Người đó muốn thứ gì nó cũng uốn chiều theo được hết. Mục đích nó uốn là để lấy lòng thủ lợi. Dù cho người đó xử sự hành động trăm lần sai trái, nó cũng uốn cong ca ngợi người đó cái gì cũng tốt đẹp hết. Ðó là nó uốn theo chiều gió để được hưởng chút lợi lộc. Nó uốn miễn sao được vinh thân phì gia thì thôi. Nó không cần biết đến phẩm cách thể diện giá trị làm người chi cả. Ðây là nó uốn theo chiều hạ đẳng để được lợi lộc ấm thân.

Ngược lại, khi mà nó ghét ai, thì nó uốn theo kiểu trù rủa, đâm thọc, nói xấu, đặt điều thêm thắt, mắng nhiếc, nhục mạ. Nghĩa là bằng mọi cách nó phải dìm hại người đó cho đến chết mới thôi. Ðó là nó uốn theo chiều gian xảo quỷ quyệt rất là độc ác. Ðại khái nó uốn theo cách đường mật cũng được hay nó uốn theo cách cay đắng như ớt như bồ hòn cũng xong. Cho nên trong năm giới cấm của người Phật tử tại gia, thì giới thứ tư là giới Phật cấm người Phật tử không được nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều và nói lời hung ác.

Chính vì không muốn cho nó uốn một cách vô ý thức và gây ra nhiều tội ác như thế, nên các bậc Cổ Ðức mới khuyên răn người ta trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần (tức là lời nói mang ẩn ý ngụ ngôn mà người xưa đã khuyến nhắc chúng ta phải hết sức cẩn trọng giữ gìn ở nơi lời nói).
Cái lưỡi không xương
Khi Lê Công Định bị Cơ quan An ninh điều tra bắt giam, xử lý về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, trước Cơ quan điều tra, Lê Công Định đã khai nhận hết về hành vi phạm tội của mình và cũng không quên xin pháp luật khoan hồng vì đã thành khẩn khai báo. Mọi lời khai, lời nhận tội của Lê Công Định đã được ghi vào biên bản, được Lê Công Định đọc lại, ký nhận và có cả hình ảnh về lời nhận tội của ông ta đã được quay lại. Cụ thể, Lê Công Định đã khai nhận:

“Thứ nhất, tôi đã tham gia khoá huận luyện đấu tranh bất bạo động do tổ chức “Việt tân”tổ chức từ ngày 01/3/2009 đến ngày 3/3/2009 tại Thái Lan, trong đó do 2 người Secbia trình bày. Tôi biết Việt tân là một tổ chức khủng bố đã huấn luyện cho một số người Việt Nam về đấu tranh bất bạo động tại Việt Nam

Thứ hai, tôi đã tham gia tổ chức “ĐảngDân chủ Việt Nam” do Nguyễn Sỹ Bình chủ tịch Đảng “Nhân dân hành động” đứng đầu, ông Bình mời tôi tham gia Ban thường vụ Đảng Dân chủ. Ngày 26/3/2009 tôi sang Phuket, Thái Lan gặp ông Nguyễn Sỹ Bình và ông Trần Huỳnh Duy Thức để bàn về tình hình chính trị, kinh tế Việt Nam, bàn về chủ trương thành lập thêm 2 Đảng mang tên là “Đảng Lao động Việt Nam” và “Đảng xã hội Việt Nam” để thu hút thêm lực lượng tham gia. Và cũng tại Phuket chúng tôi cũng đã bàn viết chung một cuốn sách mang tên “Con đường Việt Nam”… Sau khi về nước tôi đã lập một trang blog… Tôi thấy rằng những việc làm trên của tôi là vi phạm pháp luật Việt Nam, tôi rất ân hận vì những hành vi sai trái của mình và cũng mong được Nhà nước xem xét khoan hồng”.

Video và những lời thú nhận hành vi phạm tội của Lê Công Định đã được phát công khai trên chương trình truyền hình của VTV đề người dân cả nước xem cũng như là một bằng chứng chứng minh hành vi phạm tội của các đối tượng, bằng chứng cho thấy họ đã thừa nhận hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật của mình để răn đe những người khác.

Sau một thời gian chấp hành án phạt tù, Lê Công Định được Nhà nước xem xét cho ra tù trước thời hạn. Thế nhưng, từ khi được ra tù đến nay, Lê Công Định không những không biết hàm ơn mà trái lại ông ta liên tục có những lời nói, trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài (BBC tiếng Việt) với giọng điệu lật lọng, xảo trá, tự vả vào miệng mình về những gì mình đã khai trước đây tại cơ quan điều tra. Nào là, “tôi bị ép cung từ lúc bắt tới lúc xử”, “video nhận tội mà chính quyền phát trên truyền thông chính thức đã bị an ninh VN thu làm nhiều lần, được sắp đặt lại, cắt ghép cho tuyên truyền của chính quyền”.

Đúng là người đời vẫn thường nói “lưỡi không xương trăm đường lắt léo”. Trong trường hợp này nó chẳng hề sai với Lê Công Định. Nhìn hình ảnh Lê Công Định cúi gằm mặt đọc bản thú nhận tội với thái độ ngoan ngoãn trước cơ quan điều tra, rồi xin khoan hồng thì có ai nghĩ rằng, sau khi được ra tù, ông ta lại vả vào miệng mình những gì mình đã nói trước đây. Đúng là cái lưỡi không xương. Vậy mà luôn tự mình là nhà “zân chủ”, ai có thể tin được một người “thủ lĩnh” như vậy chứ. Đúng là chỉ có thể làm thủ lĩnh của “đám rận”.

Lâm Trấn

Trung Quốc đã bắt tay với Mỹ chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974?

21:46 1 Comment
Tổng thống Mỹ Nixon bắt tay Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông năm 1972

Cách đây hơn 40 năm, ngày 19/1/1974 nhân lúc chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính quyền cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đang tập trung sức lực giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.


Hơn 40 năm đã trôi qua nhưng những ký ức về việc Trung Quốc tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vẫn còn sâu đọng trong tâm trí nhiều người dân Việt Nam. Đó là minh chứng rõ nét nhất cho thấy bản chất thâm độc, sự xảo trá của Trung Quốc trong âm mưu xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.


Cho đến hiện nay, vẫn còn có những ý kiến cho rằng, chính quyền Việt Nam cộng hoà đã không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà bằng chứng rõ nét nhất là trận Hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974. Đồng thời, cho rằng chính quyền cộng sản miền Bắc Việt Nam đã im lặng không phản ứng gì để Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, lên án chính quyền miền Bắc Việt Nam… Vậy đâu là sự thật?


Ngày 16/1/1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) đưa một phái đoàn công binh Quân đoàn I của Việt Nam Cộng hòa do Thiếu tá Hồng dẫn đầu (trong đó có một người Mỹ tên Kosh thuộc Văn phòng Tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng) ra thăm dò một số đảo Hoàng Sa để thiết lập một đường băng ngắn đã phát hiện hai ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần đảo Hữu Nhật (còn được gọi không chính xác là đảo Cam Tuyền), đồng thời phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Quang Hòa và cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh (còn được gọi không chính xác là đảo Vĩnh Lạc).


Đêm 17/1/1974, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa.


Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!”, và nói rằng, “trận này không thể không đánh”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi "cải tạo".


Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm: Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.


Chỉ trong một thời gian ngắn Trung Quốc đã đánh chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (khi đó chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam cộng hoà đang quản lý). Có ý kiến cho rằng, quân đội Việt Nam cộng hoà thất bại là bởi lực lượng chênh lệch. Điều này ngay lập tức bị phản bác.


Chúng ta biết rằng, thật sự, quân đội Trung Quốc tham chiến trên quần đảo Hoàng Sa có lực lượng còn thua kém cả quân đội Việt Nam cộng hoà cả về hỏa lực lẫn giãn nước của đội tàu.Cụ thể:


Về hoả lực: Hải quân Việt Nam cộng hoà có các tàu Trần Bình Trọng (HQ-5), Lý Thường Kiệt (HQ-16), and Trần Khánh Dư (HQ-4), Nhật Tảo (HQ-10) với choán nước từ 650 đến 2800 tấn. Hỏa lực mạnh với cỡ nòng pháo từ 20mm đến 127mm với cơ số hàng chục nòng( 2 nòng 127mm, 4 nòng 76mm, trong đó có 3 nòng bắn nhanh ("hải pháo 76 ly tự động"), đặc biệt có ngắm bắn máy tính-radar, 16 nòng 40mm liên thanh, 14 nòng 20mm liên thanh và nhiều súng cỡ nòng nhỏ hơn khác.


Trong khi đó, trang bị tàu chiến của Trung Quốc hạn chế hơn nhiều, với số lượng tàu là 4 tầu rà mìn nhỏ Kronstadt, 2 tàu rà mìn nhỏ khác với giãn nước chỉ khoảng 390 tấn mỗi tàu. Về hỏa lực, Hải quân TQ cũng cực kì thua kém với cỡ nòng chỉ từ 25-85mm ( tổng cộng các tàu: 4 nòng 85mm phát một nạp đạn tay (Đ-44 bản 85mm cho hải quân), 8 nòng 57mm liên thanh (súng phòng không đầu đạn 2,8kg, liên thanh).12 nòng 37mm, 8 nòng 25mm).


Về không quân, có thể nói không quân Việt Nam cộng hoà vốn tự hào là lực lượng không quân lớn thứ ba thế giới, với nhiều máy bay có thể chi viện cho Hoàng Sa nhưng thực tế họ đã đứng ngoài nhìn cuộc chiến. Có thể nói đây là lực lượng có khả năng nhất để đảo ngược tình thế thì đã đứng nhìn ( F5 có tầm bay chiến đấu đến hơn 800km và cường kích A37 có thể bay với tầm bay chiến đấu đến 740km- dư sức quần thảo vùng trời Hoàng Sa và thay đổi cục diện chiến sự).


Như vậy, có thể khẳng định quân đội Việt Nam cộng hoà có ưu thế tuyệt đối về hỏa lực, cũng như không quân, không hề có chuyện Mig21 hay Mig23 của Trung Quốc yểm trợ, cũng không có bất kỳ tàu tên lửa nào của Trung Quốc ra chi viện. Thất bại mà Việt Nam cộng hoà nhận lấy, không phải do “chênh lệch lực lượng” mà hoàn toàn ở tinh thần chiến đấu, đặc biệt đó là sự thất bại có chủ ý của những người đứng đầu Việt Nam cộng hoà.


Vậy đâu là nguyên nhân thất bại? đâu là nguyên nhân chính của việc Trung Quốc dễ dàng đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa?


Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon đã có chuyến thăm bất ngờ tới Trung Quốc. Trong chuyến thăm này giữa hai nước đã ra Thông Cáo Thượng Hải năm 1972 giữa tổng thống Mỹ Nixon và lãnh đạo Trung Quốc Chu Ân Lai. Không ai rõ cụ thể nội dung của “Thông cáo” này như thế nào nhưng nhiều nguồn thông tin đã khẳng định, ở đó có một cuộc “ngã giá”, “đổi chác” giữa Mỹ và Trung Quốc về Việt Nam. Bởi vậy, chính “nhờ “ sự thỏa hiệp này mà nước Mỹ đã mang bom đến hủy diệt gần như toàn bộ miền Bắc với hi vọng lật ngược tình thế nhưng rốt cuộc vẫn phải chịu thất bại và rút quân về nước năm 1973. Nói cách khác, Trung Quốc sẽ hậu thuẫn cho việc Mỹ mang bom huỷ diệt miền Bắc Việt Nam đưa Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá” để Mỹ được rút khỏi Việt Nam trong danh dự.


Ngược lại, Mỹ sẽ hậu thuẫn để Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (khi đó đang thuộc sự quản lý của chính quyền Việt Nam cộng hoà). Lợi ích của Việt Nam cộng hoà cũng chính là lợi ích của Mỹ. Bởi vậy, mới có chuyện chính quyền Việt Nam cộng hoà đứng ngoài cuộc nhìn Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa mà chỉ cử một lượng nhỏ binh sĩ và tàu chiến để chống lại cho có vì. Trong khi đó, vì những điều khoản trong Hiệp định Giơ ne vơ cũng như hiệp định Paris mà chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hoà không thể lên tiếng. Đó cũng là lý do mà kẻ xấu luôn lợi dụng để vu cáo, lên án cho rằng chính quyền cộng sản Việt Nam “hèn nhát”.


Như vậy, có thể nói rằng, hành động mạnh tay xâm lược của Trung Quốc không thể xảy ra nếu không có sự đồng ý của Mỹ, đơn giản lợi ích của Việt Nam cộng hoà là lợi ích của Mỹ, không có thỏa thuận trước, nước Mỹ không thể nào bỏ rơi đứa con đẻ của mình. Hành động xâm lược của Trung Quốc, một mặt là hành động táo tợn, nhưng không thể nào vì thế mà quên đi sự hậu thuẫn ngầm của Mỹ. Với hành động này, về mặt lâu dài, nó còn tại một quả bom nổ chậm đến ngày nay, hợp thức hóa sự có mặt của người Mỹ tại Đông Dương từng bước dưới vai trò "ngăn chặn Trung Quốc".

Việt Nguyễn

Thấy gì từ chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Trung Quốc?

21:45 Add Comment
Chu Vĩnh Khang - một trong những con "hổ" lớn bị sa lưới
Ngay sau khi lên nắm quyền, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phát động thực hiện chiến dịch “đả hổ diệt ruồi”, nói cách khác là chiến dịch chống tham nhũng trên khắp đất nước. Kể từ đó đến nay, chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” đã khiến hàng loạt các quan chức cấp cao ngã ngựa, hàng loạt quan chức bị truy tố, bị điều tra, bị khai trừ đảng vì cáo buộc tham nhũng. Có thể kể đến các con “hổ” lớn như Chu Vĩnh Khang (Nguyên Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an); Thượng tướng Từ Tài Hậu (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương); Thượng tướng Quách Bá Hùng (nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương); Trung tướng Cốc Tuấn Sơn (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần); Trung tướng Lưu Tranh (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần); ông Lệnh Kế Hoạch (cựu Chánh văn phòng Trung ương Đảng); ông Mã Kiến (Thứ trưởng Bộ An ninh quốc gia Trung Quốc)… và hàng loạt các quan chức cao cấp khác trong Quân đội, trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.


Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được thực hiện với phương châm “không có vùng cấm”, tức là cho phép điều tra tất cả những cán bộ vi phạm kỷ luật, những cán bộ có dính lứu tới tham nhũng bất kể đó là ai. Điều đó cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của ông Tập Cận Bình và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sau 2 năm thực hiện chiến dịch này, có những vấn đề phát sinh khiến không ít người hoài nghi về mục đích cũng như quyết tâm thực sự của chính quyền Tập Cận Bình.


Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” có thể nói đã và đang khiến các quan chức của Trung Quốc có dính lứu đến tham nhũng đang “đứng ngồi không yên”, có rất nhiều đồng tình nhưng cũng không ít người hoài nghi về chính sách của ông Tập Cận Bình. Với chúng ta, qua 2 năm Trung Quốc thực hiện chiến dịch “bàn tay sắt” chống tham nhũng, chúng ta thấy được gì từ chiến dịch đó.


Với cá nhân tôi, có thể rút ra một số vấn đề sau:


Thứ nhất, tình trạng tham nhũng ở Trung Quốc đang ở mức báo động, đặc biệt là trong quân đội. Có thể nói, bản chất của tham nhũng là gắn với quyền lực, gắn với nhà nước. Có nhà nước, có quyền lực là có tham nhũng. Trung Quốc mặc dù trong nhiều năm qua đã rất chú trọng đến việc chống tham nhũng nhưng đây vẫn là quốc nạn ở quốc gia này. Tình trạng tham nhũng càng đáng báo động hơn trong quân đội, khi hàng loạt các quan chức cấp cao trong quân đội bị “ngã ngựa” hoặc bị điều tra vì các cáo buộc tham nhũng.


Thứ hai, Tập Cận Bình đang tìm cách củng cố quyền lực của mình thông qua nước cờ “chống tham nhũng”. Việc thanh trừng hàng loạt các quan chức cấp cao vì dính lứu đến tham nhũng cho dù đó là những “công thần” của các đời lãnh đạo trước, loại bỏ hàng loạt tướng lĩnh trong quân đội, công an cho thấy với Tập Cận Bình không tồn tại khái niệm “vùng cấm” trong chống tham nhũng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, đây cũng là một nước cờ cao tay của Tập Cận Bình khi ông tìm cách củng cố quyền lực của mình thông qua chính chiến dịch này. Dần loại bỏ những người dính lứu đến tham nhũng, đưa những nhân vật thân thiết của mình vào nắm giữ các vị trí quan trọng để củng cố quyền lực. Nói cách khác, vừa được “tiếng” nhưng đồng thời cũng có “miếng”.


Thứ ba, đằng sau cuộc chiến chống tham nhũng phải chăng là một cuộc thanh loại những người không cùng “vây cánh”? Đây là câu hỏi mà không ít người đặt ra đối với chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập Cận Bình. Việc rất nhiều quan chức cấp cao, nhất là những quan chức thân thiết với các đời lãnh đạo trước đây, là “tay chân”, nhân vật thân tín với các đời lãnh đạo trước bị loại bỏ, cho thấy Tập Cận Bình đang tìm cách loại những nhân vật không cùng chí hướng với mình để thay thế bằng một thế hệ lãnh đạo mới thân tín hơn. Đó cũng là một cách để củng cố quyền lực.


Thứ tư, liệu chiến dịch này sẽ kéo dài đến bao giờ? Dư luận cũng đang đặt câu hỏi là đến khi nào Tập Cận Bình sẽ kết thúc chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của mình? Kết thúc bằng cách nào? Hay nói cách khác, Tập Cận Bình đã “cưỡi lên lưng hổ”, vậy thì khi nào ông ta sẽ chèo xuống, và xuống bằng cách nào? Liệu có bị “hổ” cắn trở lại hay không? Điều đó hơn ai hết, chính ông Tập Cận Bình phải là người biết rõ nhất.


Một số chuyên gia cho rằng ông Tập chỉ đang sử dụng chiến dịch chống tham nhũng như một phương tiện để răn đe các thế lực chống đối cũng như củng cố thêm quyền lực. Nếu không có những thay đổi mang tính hệ thống, bao gồm cả việc nâng cao sự minh bạch và tự do báo chí, các hành vi phạm pháp sẽ tái diễn."Thật sự chiến dịch chống tham nhũng cũng có những tác động tích cực không thể phủ nhận nhưng dường như nó giống với một nước cờ chính trị hơn", Murong Xuecun, nhà phê bình xã hội, thường xuyên viết về nạn lạm dụng quyền lực, bình luận.

Lâm Trấn

VTV: Đâu chỉ là lời xin lỗi!

21:42 Add Comment
Hình ảnh Nguyễn Nhật Thanh và Nguyễn Như Đào trong chương trình
"Điều ước thứ 7"
Sau khi chương trình “Điều ước thứ 7” với “vợ chồng hát rong” được VTV phát sóng trên sóng truyền hình ngày 10/1/2015 đã gây ra những phản ứng khác nhau từ dư luận. Với những người trực tiếp xem truyền hình, có thể nói câu chuyện tình “cảm động” trên đã khiến họ lay động, đã lấy đi biết bao nước mắt của độc giả bởi câu chuyện tình lãng mạn, vượt lên hoàn cảnh và số phận, câu chuyện cổ tích giữa đời thường. Nhưng với một số người khác, nhất là những người biết về nhân vật mà êkip chương trình đã thực hiện thì họ lại tỏ ra nghi ngờ về tính chân thực của câu chuyện này. Sự thật của các nhân vật bắt đầu được làm sáng tỏ khi phóng viên của VietNamNet đã về tận quê của các nhân vật để điều tra về họ.


Khi những thông tin về các nhân vật được làm sáng tỏ, dư luận bắt đầu mong muốn một câu trả lời chính thức, một sự lên tiếng từ chính VTV - Những người đã xây dựng nên câu chuyện tình “cảm động” này. Chiều ngày 16/1, Đài Truyền hình Việt Nam đã có phản hồi chính thức tới báo chí và gửi lời xin lỗi tới khán giả về sự việc này. Trong thông cáo chính thức của Đài Truyền hình Việt Nam ghi rõ: “…Chương trình “Điều ước thứ 7” phát sóng ngày 10/1/2015 có nội dung về chuyện tình và điều ước của cô gái khiếm thị Nguyễn Như Đào (quê Anh Sơn, Nghệ An) và chàng trai Nguyễn Nhật Thanh (quê Quảng Xương, Thanh Hóa)… Dù cho có bất cứ lý do nào, Đài Truyền hình Việt Nam cũng xin nhận trách nhiệm và gửi lời xin lỗi chân thành tới gia đình của chị Nguyễn Như Đào và anh Nguyễn Nhật Thanh, đặc biệt là tới vợ và con hiện tại của Thanh vì những tổn thương mà chương trình đã gây ra cho họ. Đài Truyền hình Việt Nam cũng gửi lời xin lỗi chân thành tới khán giả đã theo dõi chương trình bởi những sai sót lớn trong quá trình tác nghiệp”.

Trao đổi với báo chí, Tổng đạo diễn chương trình “Điều ước thứ 7”, đạo diễn Lại Bắc Hải Đăng cho biết: “Trước hết, phải cảm ơn VietNamNet đã trực tiếp về tận quê để tìm hiểu nhân vật. Về phía ekip, trước tiên chúng tôi xin nhận lỗi. Lỗi từ ban biên tập chính rồi mới đến lỗi người A, người B. Nhưng với vai trò là tổng đạo diễn của chương trình, tôi xin nhận trách nhiệm!”.

Tuy nhiên, lý giải cho sự sai sót của mình, đạo diễn Lại Bắc Hải Đăng cho rằng,“lỗi bắt nguồn từ việc ekip đã quá tin nhân vật và cũng là sai sót mình không làm đến nơi đến chốn việc thẩm tra, chủ quan, lỗi nghiệp vụ báo chí. Đây là lỗi rất là lớn. Với khán giả truyền hình, thay mặt ekip, tôi chân thành xin lỗi khán giả, vì sai sót của chương trình đã ảnh hưởng đến cái mà tôi cho là quan trọng nhất đó là niềm tin với chương trình mà đúng hơn là dành cho những nhân vật trong chương trình”.

Đạo diễn Lại Bắc Hải Đăng cho rằng vì quá tin nhân vật, vì làm không đúng nghiệp vụ báo chí, không thẩm tra, xác minh về nhân vật mà chỉ tin Đào (nhân vật Đào) nói là không cần phải về nhà Thanh (nhân vật Thanh) “vì em đã trực tiếp về tận xã Quảng Đại để xác minh và được anh Toàn công an xã xác nhận Thanh chưa đăng ký kết hôn, chưa có vợ”. Chỉ có như vậy mà êkip chương trình, Diệp Chi đã tin hoàn toàn. Đến khi xảy ra sự cố, hỏi lại anh Toàn có phải là công an xã hay không thì mọi người mới ớ ra,
cậu Toàn đó không hề tồn tại. Gọi về công an xã nơi Thanh ở cũng xác nhận không có ai tên Toàn.

Với một chương trình phát sóng trên đài truyền hình quốc gia, phát sóng cho hàng triệu người dân cả nước xem mà lại làm cẩu thả, tắc trách thế sao? Không biết Tổng đạo diễn chương trình vô tình hay hữu ý. Điều tra, xác minh về nhân vật là một nguyên tắc bắt buộc tối thiểu mà người làm nghề phải thực hiện, đằng này lại chỉ biết tin vào nhân vật, thật khó hiểu.

Một chương trình phát sóng khiến hàng triệu khán giả lay động nhưng cuối cùng điều làm khán giả lay động thì lại là những điều không có thực, đó chỉ là một câu chuyện cổ tích do những người thực hiện chương trình nghĩ ra. Đó thực sự là một tác phẩm văn học thì đúng hơn, ở đó tác giả có thể hư cấu, có thể tưởng tượng theo ý đồ của mình.

Mặc dù đã gửi lời xin lỗi đến độc giả nhưng với cách làm hiện nay của VTV thì rõ ràng những người có trách nhiệm cần phải xem xét lại. Đài truyền hình quốc gia là bộ mặt của quốc gia, không thể lúc này thì xin lỗi, lúc kia lại chịu phạt. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn hết bị xử phạt vì “Nhặt xương cho thầy”, “đưa tin sai về độ tuổi cầu thủ Công Phượng”, trước đó là “Đời cô Lượm” trong chương trình “Người xây tổ ấm”… nay lại phải xin lỗi độc giả. Rõ ràng, đã đến lúc VTV phải thay đổi cách nghĩ và cách làm của mình để lấy lại niềm tin yêu từ khán giả.

Nam Phong

SUY THOÁI VĂN HÓA: ĐÃ ĐẾN NGƯỠNG BÁO ĐỘNG!

10:10 52 Comments
Mực tàu - Gameshow, phim trên các kênh truyền hình chính thống ngày càng xa rời giá trị truyền thống văn hóa Việt, đầy rẫy cảnh dung tục, cởi áo, cãi nhau thiếu văn hóa, trẻ em rộ “mốt” nam giả nữ… Phim ảnh Việt chạy theo mô típ đồng tính bệnh hoạn, phổ biến cảnh sex và bạo lực đẫm máu cốt để câu khách. Những yếu tố cấu thành nên văn hóa đang ngày càng bị thay đổi, lệch lạc một cách rất nghiêm trọng.
 
Những bộ phim sitcom bệnh hoạn
Một thực tế là hiện nay những phim không có cảnh “nóng”, không có cảnh đâm chém nhau đẫm máu sẽ rất khó thu hút khán giả đến xem. Các game thu hút giới trẻ cũng chính là những game liên quan đến bạo lực, bắn nhau, chém nhau...Nói một cách chung nhất, tất cả các chương trình phải rời xa những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam mới thu hút được giới trẻ hiện nay. Đây là một thực tế, nhưng là một thực tế đau lòng đến báo động.
 
Trào lưu giả gái đang báo động trên truyền hình.
Xã hội đang ngày càng chứng kiến nhiều sự lệch lạc, biến dạng của nhân cách, sự tan vỡ của rất nhiều hệ giá trị đạo đức truyền thống, như quan hệ trong gia đình, quan hệ thầy trò và nhiều quan hệ xã hội khác. Con cái sẵn sàng giết ông bà, bố mẹ vì không cho tiền chơi game, vì không cho đi xem chương trình của thần tượng biểu diễn, anh em trong nhà sẵn sàng đâm chém lẫn nhau vì tranh giành tài sản, trò sẵn sàng đánh, chởi lại thầy khi bị phê bình, nhắc nhở...Điểm qua một vài năm gần đây có thể thấy các tội phạm chủ yếu là giết người, cướp của, hiếp dâm, cố ý gây thương tích, và đối tượng phạm tội thì ngày càng trẻ hóa, độ tuổi chủ yếu là dưới 25 tuổi.
 
Các gameshow dung tục trên truyền hình.
Những chương trình truyền hình thực tế còn nhiều điều chưa chuẩn mực, thậm chí hỗn loạn, nên các yếu tố tiêu cực có cơ hội phát triển mạnh mẽ, kích thích giá trị tầm thường, nhu cầu tầm thường và tầm nhìn hạn hẹp. Những chương trình văn hóa chính thống thưa thớt người tham dự, ít người quan tâm, nhưng những chương trình giải trí vô bổ tràn lan trên sóng giờ vàng lượng người xem ngất ngưởng. Một người trẻ sẽ không vào xem một bộ phim lịch sử dù được mở cửa tự do, nhưng sẽ rạch tay đòi tự tử nếu bố mẹ không cho tiền mua vé xem chương trình của thần tượng biểu diễn...



Nguyên nhân của nó, người ta nói nhiều đến sự thay đổi của đời sống kinh tế. Nhưng thực ra, điều quan trọng nhất, nguyên nhân sâu xa nhất, đó chính là vai trò của văn hóa. Có những thời kỳ chúng ta rất khó khăn về kinh tế như thời kỳ chiến tranh chẳng hạn, nhưng vì sao các mối quan hệ xã hội vẫn còn những yếu tố tích cực, thậm chí rất trong sáng? Còn trong thời mở cửa, hãy thử đi khảo sát một vùng đất có các dự án giải tỏa đất đai, nơi người dân đang sống một cuộc sống bình dị nhất, bỗng nhiên có trong tay hàng tỉ đồng, mà không biết dùng số tiền ấy vào việc gì, đầu tư ra sao cho ra lợi nhuận. Từ đó bắt đầu nảy sinh những bi kịch trong chính gia đình, nào là mâu thuẫn trong vấn đề chia chác, nào mâu thuẫn trong vấn đề sử dụng...để lại hậu quả là rất nhiều tệ nạn xã hội phát sinh như cờ bạc, lô đề, rượu chè, ma túy, mại dâm...Từ ấy, trở lại với sự nghèo, thậm chí nghèo hơn, đau khổ hơn vì bên cạnh cái nghèo là sự tan vỡ của bao nhiêu giá trị đạo đức, là sự tan vỡ của hạnh phúc gia đình.

Nếu chúng ta không giải quyết từ gốc, và có cái nhìn đúng đắn hơn về tầm quan trọng của văn hóa, thì chắc chắn nó sẽ không dừng lại ở sự suy thoái về đạo đức, sự tan vỡ các giá trị truyền thống, mà với cách duy trì như thế này, sự suy thoái sẽ chạm ngưỡng, đẩy dân tộc này đến những hiểm họa khôn lường.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” để nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong đời sống xã hội, nhưng đầu tư vào lĩnh vực mang tầm tối quan trọng này hình như đang ít ỏi?



 Với cách duy trì văn hóa như thế này, sự suy thoái sẽ chạm ngưỡng, đẩy dân tộc này đến những hiểm họa khôn lường, đó là một thứ ‘diễn biến hoà bình’ đáng sợ.

           





CÓ THỰC MỚI VỰC ĐƯỢC ĐẠO

09:37 9 Comments
[Kin Kin] 
Cha ông ta có câu "có thực với vực được đạo" - ai cũng hiểu nôm na đó là phải ấm cái bụng mới có thể học tốt được, tuy nhiên đó là trước đây khi dân ta còn đói còn nghèo, điều kiện ăn học tối thiểu còn khó khăn, khi đó để đi học được đã là một nỗ lực rất lớn. Mục tiêu khi đó cũng chỉ là xoá mù chữ. 
Tuy nhiên, bây giờ có lẽ người ta chỉ nhắc đến những sự việc đó như một câu chuyện vui để nhớ đến một thời khó khăn của nhân dân ta. Với yêu cầu của tình hình hiện nay, trong hoàn cảnh cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia về nhiều mặt thì câu nói trên có lẽ nên được hiểu rộng hơn. 
"Thực" ở đây không còn là những điều kiện vật chất tối thiểu nữa, thực ở đây nên được hiểu mở rộng thành đó là sự đầu tư xứng đáng, đúng cách về điều kiện vật chất - và "vực đạo" nên trở thành việc đưa công việc chuyên môn lên đến đỉnh cao, tạo ra sự đột phá ......
Trong mọi công việc, mọi lĩnh vực của thế giới hiện đại để thành công điều cần được đầu tư, hay muốn nói đến đây đó là "tiền". Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn hiện nay của đất nước ta, không thể đòi hỏi chúng ta có thể đầu tư dàn trải vào tất cả các lĩnh vực của đời sống. Muốn có hiệu quả với chi phí tối thiểu không gì bằng đầu tư "từ gốc" đầu tư có kế hoạch, có trọng tâm trọng điểm.
Việc đầu tư vào đâu, đầu tư như thế nào là một bài toán thực sự hóc búa cho những nhà quản lý đất nước, tình trạng đầu tư tràn lan, đầu tư không hiệu quả dẫn đến sự lãng phí. 
Sau vụ việc đại biểu quốc hội Châu Thị Thu Nga bị cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố chúng ta lại có thể thấy thực trạng này được phơi bày rõ rệt hơn. 
Rất nhiều dự án bất động sản đang còn bỏ hoang 
Hệ quả một thời gian dài tăng trưởng nóng trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản đó là lượng tồn kho và các dự án bất động sản còn dở dang đang còn quá nhiều trong khi đó khả năng mua và tiếp cận với nguồn vốn từ gói hỗ trợ 30.000 tỷ của nhà nước còn đang rất khó khăn trong khi đó số người đang "chết chìm" với khối tín dụng đen với mục đích đầu cơ trục lợi cá nhân còn rất nhiều và phải ngậm bồ hòn làm ngọt.
Đây là bài học đáng suy ngẫm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm trong thời gian tới !