Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự do báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tự do báo chí. Hiển thị tất cả bài đăng

CPJ LẠI TRẮNG TRỢN VU CÁO VÀ BỊA ĐẶT

15:17 55 Comments
Gió làng
Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo (CPJ) được thành lập năm 1981, có trụ sở ở New York, Mỹ với tôn chỉ, mục tiêu đề ra là “thúc đẩy tự do ngôn luận trên toàn thế giới thông qua hoạt động bảo vệ quyền đưa tin và nền tự do báo chí trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan...”.  Tuy nhiên, thời gian gần đây dư luận liên tiếp cáo buộc CPJ đã bị lũng đoạn nhằm phục vụ mưu đồ chính trị riêng. Mới đây, CPJ lại xuyên tạc “Việt Nam đang giam giữ ít nhất 10 nhà báo, nằm trong danh sách sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất trên thế giới.

Các “nhà báo” hiện đang bị giam giữ tại Việt Nam theo báo cáo của CPJ
Điều dễ nhận thấy, thời gian gần đây, với thủ đoạn tương tự, CPJ đã nhiều lần tung tin bịa đặt xuyên tạc “Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền hoặc bịt miệng đối lập” để kích động chống phá Việt Nam. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu những cáo buộc mà CPJ đưa ra đối với Việt Nam là đúng sự thật và không phải vì động cơ chính trị xấu nào của các thế lực đen tối đang nắm quyền ở CPJ, bất chấp những thành tựu về tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền hoặc tốc độ phát triển Internet ở Việt Nam.
Trên thực tế, ở Việt Nam không có phóng viên hay nhà báo nào bị bỏ tù mà chỉ có người vi phạm pháp luật bị xử lý theo quy định của pháp luật. Một số trường hợp mà tổ chức CPJ nhắc đến như: Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Đình Ngọc, Hồ Đức Hòa, Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Văn Hải,… đây là các đối tượng có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam, mặc dù mang danh “nhà báo”, “blogger độc lập” nhưng thực chất là chống đối chính quyền, đi ngược lại lợi ích của đất nước.
Có thể kể đến như trường hợp của Nguyễn Văn Hóa, người mới đây đã bị TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt 7 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88 BLHS.
Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Hà Tĩnh, từ năm 2013 đến năm 2017, Nguyễn Văn Hóa đã chủ mưa lập ra các tài khoản trên mạng xã hội đăng tải các thông tin nhằm bôi nhọ, xuyên tạc, kích động, nói xấu chính quyền, nói xấu Đảng rồi truyền bá rộng rãi trên các trang mạng xã hội. Năm 2016, tại tỉnh Hà Tĩnh xảy ra sự cố môi trường biển và lũ lụt, Nguyễn Văn Hóa đã trực tiếp bố trí, dàn xếp quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn và đăng tải lên mạng xã hội để kích động người dân tụ tập biểu tình, chống đối chính quyền.
Cao điểm nhất vào tháng 10/2016, Nguyễn Văn Hóa trực tiếp cùng với một số đối tượng cực đoan kích động người dân biểu tình tại khu vực cổng chính của Công ty Formosa gây rối, phá phách rồi dùng thiết bị flycam ghi hình và truyền trực tiếp lên mạng xã hội; từ đó hô hào, kích động lôi kéo người dân trong vùng đến gây rối, đập phá tài sản của Công ty Formosa, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Hay như trường hợp của Trần Thị Nga, núp dưới danh nghĩa đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”, Nga đã trực tiếp lập các tài khoản blog, Facebook cá nhân và trang Youtube, làm ra, tàng trữ, sử dụng trang mạng xã hội đăng tải video clip có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, truyền bá những tư tưởng phản động, gieo rắc sự nghi ngờ, gây hoang mang trong nhân dân... nhằm mục đích chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Ngoài ra, Trần Thị Nga còn trả lời phỏng vấn các đài, báo phản động ngoài nước để cung cấp những thông tin, tình hình sai lệch về hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, về lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Với những chứng cứ không thể bác bỏ, ngày 22/12/2017, TAND cấp cao tại Hà Nội đã tuyên phạt Trần Thị Nga 9 năm tù giam và 5 năm quản chế tại địa phương về “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88 BLHS.
Rõ ràng, báo cáo của CPJ thể hiện một cái nhìn phiến diện, thiếu thiện chí, thậm chí là thù địch của những người điều hành tổ chức này./.

RSF LẠI DÙNG ĐẾN CÁI GỌI “XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ” ĐỂ CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM

11:10 16 Comments
Vô Danh
Trong những ngày vừa qua, đám “dân chủ” trong nước như lên đồng về việc Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) đưa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào danh sách “kẻ thù của tự do truyền thông” và xếp Việt Nam đứng thứ 175 trong số 180 quốc gia “đàn áp tự do báo chí”. Chúng hả hê xuyên tạc rằng: Tại Việt Nam báo chí hoàn toàn bị cấm đoán, Internet bị theo dõi và kiểm soát chặt chẽ; Nhiều công dân mạng và blogger bị chính quyền đàn áp vì những cáo buộc mơ hồ…
Vậy thực hư vấn đề này thế nào?
Điều dễ nhận thấy, cái gọi là “xếp hạng tự do báo chí” mà Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) đưa ra mới đây vẫn không có nội dung gì quá mới mẻ khi vẫn bằng cách làm chủ quan, áp đặt, thiếu thiện chí RSF thường xuyên tự cho mình cái quyền xếp nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam vào hàng “có vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Rõ ràng, đây là một sự xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, vu cáo, bôi đen thực tế xã hội và thực trạng tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Trong khi đó, những năm gần đây dưới sự tài trợ, thao túng của Mỹ và các nhà tài phiệt phương Tây tôn chỉ, mục đích ban đầu mà Tổ chức Phóng viên không biên biên giới đã đề ra đang dần trở nên méo mó hơn bao giờ hết. Mặc dù, đang khoác lên mình cái nhãn hiệu bảo vệ quyền lợi của các nhà báo, nhưng trên thực tế, RSF không hề bảo vệ các nhà báo chân chính mà chỉ chăm chăm tiếp tay một số blogger và nhà báo giả danh để hoạt động chống phá chính quyền. Hằng năm, RSF đều tiến hành nhận xét, đánh giá về tình hình báo chí quốc tế, rồi tổ chức xếp hạng về mức độ “tự do” báo chí của một quốc gia (trong đó có Việt Nam) theo cảm nhận chủ quan của họ. Người ta không biết có bao nhiêu độ khách quan, chuẩn xác trong đó; chỉ biết rằng đã có không ít quốc gia phản đối, phê phán cách làm phiến diện, áp đặt của tổ chức này.
Cái gọi là “xếp hạng tự do báo chí” chỉ là chiêu trò can thiệp
vào công việc nội bộ nước khác của RSF (Ảnh Internet)
Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” là tuyệt đối; mọi quyền lợi đều phải gắn liền với nghĩa vụ và đặt trong những giới hạn, khuôn khổ phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội để bảo đảm rằng việc thực hiện quyền của người này không làm ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Tiêu biểu như: Tại khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhấn mạnh: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội”.
Tại Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi. Theo đó, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Luật Báo chí cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc “tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí…” “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.
Những năm qua, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng công chúng, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, năng lực tài chính cũng như sự tác động và ảnh hưởng xã hội tích cực của các cơ quan báo chí, truyền thông đều tăng nhanh. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, giai tầng, các hội nghề nghiệp, các giới, các tôn giáo lớn, các thành phần trong xã hội đề có tờ báo của mình.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông: Tính đến tháng 12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Mạng lưới phát thanh - truyền hình có 67 đài phát thanh - truyền hình Trung ương và địa phương. Hiện tại, Việt Nam có 178 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá, gồm 103 kênh chương trình truyền hình, 75 kênh chương trình phát thanh. Bên cạnh đó, tỷ lệ người dân sử dụng Internet cũng tăng lên đáng kể, tính đến đến tháng 12/2015, tại Việt Nam đã có 52% dân số sử dụng, cao hơn mức trung bình của khu vực châu Á (38,8%) và của thế giới (45%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 6 tại châu Á….
Ở Việt Nam, báo chí đã thật sự là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp; là diễn đàn và công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích và quyền tự do của các tầng lớp nhân dân. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có báo chí. Đồng thời, khi tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào, họ đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó nhằm đáp ứng nhu cầu và bảo đảm quyền được thông tin của mình. Chính vì lẽ đó, đông đảo các giai cấp, giai tầng xã hội ở Việt Nam tự thấy không có nhu cầu xuất bản báo chí tư nhân.
Như đã đề cập ở trên, tự do báo chí là một quyền có giới hạn. Lẽ đương nhiên, dù có tự do đến thế nào thì báo chí cũng phải hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, trong đó quan trọng là không được làm tổn hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều này thì chẳng riêng gì ở Việt Nam mà ở Mỹ, Pháp và các nước tiên tiến khác cũng yêu cầu như vậy. Những trường hợp mà RSF gọi là “các bloggers có tiếng nói đối lập bị đàn áp” như: Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay Hồ Hải mới đây… về bản chất chỉ là những người đã vi phạm khoản 3 Điều 19 và khoản 2 Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng như quy định của pháp luật Việt Nam. Việc những tổ chức, cá nhân cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân bị xử lý nghiêm minh, đây là lẽ đương nhên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Cho dù còn những định kiến, áp đặt sai lệch về tình hình thực tế của Việt Nam, song không ai có thể phủ nhận được những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do báo chí. Và đã đến lúc, Tổ chức Phóng viên không biên giới nên dừng các hoạt động săm soi, chỉ trích, đưa ra những thông tin sai sự thật về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam trong bảng “xếp hạng tự do báo chí” công bố hàng năm./.

VIỆT NAM CÓ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ?

10:32 20 Comments
Vô Danh
Trong những năm gần đây, các tổ chức, cá nhân nước ngoài thiếu thiện chí và mấy “anh chị dân chủ” trong nước vẫn thường tru tréo rằng: Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí; Việt Nam chưa có báo chí tư nhân, internet bị ngăn cấm, bị hạn chế; Việc một số cá nhân bị cơ quan chức năng xử lý về hành chính hoặc pháp luật về hành vi sử dụng các phương tiện truyền thông để đưa tin xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống lại Đảng, Nhà nước là hành động “đàn áp những người bất đồng chính kiến”…
Để đánh lừa dư luận, các tổ chức, cá nhân tự xưng “dân chủ” viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về quyền con người, nhất là quyền tự do ngôn luận như tại: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Khoản 2, Điều 19)... Các điều, khoản quy định trong Chương II, Hiến pháp năm 2013 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, đây là sự viện dẫn không đầy đủ, mang tính cắt xén, không khách quan, làm sai lệch bản chất vấn đề khi đã cố tình tảng lờ đi những điều khoản, quy định khác về nghĩa vụ kèm theo khi thực hiện các quyền đó.
Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” là tuyệt đối; mọi quyền lợi đều phải gắn liền với nghĩa vụ và đặt trong những giới hạn, khuôn khổ phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội để bảo đảm rằng việc thực hiện quyền của người này không làm ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác.  Tiêu biểu như:
- Tại khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhấn mạnh: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội”.
- Đạo luật Phản loạn của Mỹ quy định: “việc viết, in, phát biểu hay phổ biến… mọi văn bản sai sự thực, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống chính quyền đều là tội”. Bên cạnh đó, Điều 2358 Chương 115 BLHS Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”. Cũng theo Hiến pháp Mỹ, Toà án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc kiểm nhà nước, xã hội và cá nhân…
Tự do ngôn luận, tự do báo chí phải tuân thủ pháp luật (Ảnh Internet)
Tại Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi. Theo đó, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Luật Báo chí cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc “tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí…” “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.
Những năm qua, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng công chúng, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, năng lực tài chính cũng như sự tác động và ảnh hưởng xã hội tích cực của các cơ quan báo chí, truyền thông đều tăng nhanh. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, giai tầng, các hội nghề nghiệp, các giới, các tôn giáo lớn, các thành phần trong xã hội đề có tờ báo của mình.
Ở Việt Nam, báo chí đã thật sự là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp; là diễn đàn và công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích và quyền tự do của các tầng lớp nhân dân. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có báo chí. Đồng thời, khi tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào, họ đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó nhằm đáp ứng nhu cầu và bảo đảm quyền được thông tin của mình. Chính vì lẽ đó, đông đảo các giai cấp, giai tầng xã hội ở Việt Nam tự thấy không có nhu cầu xuất bản báo chí tư nhân.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông: Tính đến tháng 12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Mạng lưới phát thanh - truyền hình có 67 đài phát thanh - truyền hình Trung ương và địa phương. Hiện tại, Việt Nam có 178 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá, gồm 103 kênh chương trình truyền hình, 75 kênh chương trình phát thanh…
Cũng giống như các nước khác trên thế giới, Việt Nam cũng đề ra những quy định pháp luật để hạn chế và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, tiêu biểu như: Điều 79, 88, 258 BLHS; Điều 6, 10, 28 Luật Báo chí; Điều 9, Nghị định 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ “về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet”…. Việc trong thời gian gần đây, cơ quan chức năng có những hình thức xử lý đối với các cá nhân như Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Hữu Quốc Duy, Mai Phan Lợi, Đỗ Hùng… về hành vi cố tình lợi dụng quyền tự do cá nhân nhằm xâm hại đến lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân, cơ quan, nhà nước đã cho thấy tính nghiêm minh của pháp luật.
Rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam là không thể phủ nhận, xuyên tạc. Và những tổ chức, cá nhân cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân cần phải bị lên án và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Đây là lẽ đương nhiên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế./.
KHI NHÀ BÁO BỊ CÁO BUỘC ỦNG HỘ KHỦNG BỐ: MỐI QUAN NGẠI MỚI VỀ TỰ DO BÁO CHÍ

KHI NHÀ BÁO BỊ CÁO BUỘC ỦNG HỘ KHỦNG BỐ: MỐI QUAN NGẠI MỚI VỀ TỰ DO BÁO CHÍ

17:04 16 Comments
Tòa án tại tỉnh Diyarbakir ở khu vực Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, nơi có đa số người Kurd sinh sống, hôm 31/8 đã ra lệnh giam giữ hai nhà báo người Anh làm việc cho hãng tin Vice News của Mỹ và một phiên dịch người Iraq để chờ xét xử với các tội danh khủng bố.

Trước đó, hai ngày, một tòa án Ai Cập cũng đã kết án ba năm tù giam đối với ba nhà báo làm việc cho kênh truyền hình Al-Jazeera có trụ sở tại Qatar với cáo buộc “hỗ trợ cho tổ chức khủng bố”. Những động thái này đã gây ra mối quan ngại mới về tự do báo chí.

Trong một tuyên bố, tòa án tại tỉnh Diyarbakir nêu rõ, các phóng viên người Anh cùng phiên dịch đã bị buộc tội “tiến hành hoạt động khủng bố” thay cho tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. 

Theo nguồn tin an ninh, ký giả Jake Hanrahan và nhà quay phim Philip Pendlebury bị bắt hôm thứ sáu (28/8) khi đưa tin về tình trạng bất ổn ở miền Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, nơi quân đội chính phủ đang đẩy mạnh cuộc tấn công quân sự nhằm vào lực lượng người Kurd, mà chưa được chính phủ chấp thuận.

Phản ứng sau vụ việc này, ông Kevin Sutcliffe, Trưởng ban về các chương trình châu Âu của Vice News cho hay: “Vice News mạnh mẽ lên án những nỗ lực của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ nhằm “bịt miệng” các phóng viên của chúng tôi”. 

“Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với các cơ quan có thẩm quyền để 3 người đồng nghiệp - bạn bè này được giải thoát nhanh chóng”, ông Sutcliffe nói thêm. Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI) miêu tả những cáo buộc của Ankara là “vô căn cứ và quá đáng”.

Trong một thông cáo, AI nêu rõ: “Việc nhà báo phải tường trình câu chuyện quan trọng này là hoàn toàn thích đáng”. Những văn phòng châu Âu của Ủy ban Bảo vệ Ký giả kêu gọi phóng thích họ ngay lập tức. 

Cũng trong tháng 8 vừa qua, Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ đã lên tiếng cáo buộc tập đoàn truyền thông của Vương quốc Anh (BBC) ủng hộ chủ nghĩa khủng bố trong một bài viết gần đây của hãng này về Đảng Công nhân người Kurd (PKK) - vốn bị các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) coi là tổ chức khủng bố. 

Trong một tuyên bố, Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ nói rằng bài báo của BBC đã chứa đựng “các thông tin tuyên truyền” cho PKK: “Bài báo về một tổ chức vốn bị nhiều quốc gia, trong đó có các nước thành viên EU, coi là một nhóm khủng bố là sự ủng hộ công khai đối với chủ nghĩa khủng bố”.

Trước đó, hãng BBC hôm 19/8 đã đăng tải một bài viết dựa trên chuyến đi của một phụ nữ tới trại huấn luyện của PKK ở vùng núi Kandil, nơi những người phụ nữ Yazidi và Kurd đang được đào tạo để chiến đấu chống lại IS. 

Theo Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ, bài báo của BBC miêu tả một tổ chức bị coi là khủng bố như “một nhóm vô tội chống lại một nhóm khủng bố” và “khuyến khích sự tuyển mộ vào PKK” là không thể chấp nhận được và vi phạm các nghị quyết của EU và Liên Hợp Quốc về việc cấm khuyến khích và ngợi ca khủng bố...
Hai nhà báo al-Jazeera trong phiên toà tại Cairo, trong khi nhà báo Australia Peter Greste đã bị trục xuất về nước. Ảnh: Reuters

Trong khi đó, tại Ai Cập, ba nhà báo bị kết án gồm Peter Greste, người Australia, Mohamed Famy, người Canada gốc Ai Cập và nhà sản xuất người Ai Cập Baher Mohamed. Cả Famy và Mohamed đều có mặt tại phiên xét xử. 

Riêng nhà báo Greste bị xử án vắng mặt do đã bị trục xuất về Australia đầu năm nay. Ngoài ba năm tù giam, nhà sản xuất Australia Greste còn nhận thêm mức án 6 năm tù giam với tội danh sở hữu vũ khí. Tòa án Cairo tuyên ba nhà báo này tội “loan tin thất thiệt” tuyên truyền cho tổ chức Anh em Hồi giáo (MB) và hoạt động không giấy phép.

Kể từ cuộc chính biến lật đổ Tổng thống Mohamed Morsi hồi tháng 7/2013, Ai Cập đã gia tăng trấn áp những người ủng hộ cựu lãnh đạo Hồi giáo này. Bản án trên đã gây ra một làn sóng phản đối trong cộng đồng quốc tế. Đài truyền hình Al-Jazeera tuyên bố sẽ kháng án và tố cáo chính quyền Ai Cập chà đạp quyền tự do báo chí và chính trị hóa vụ án.

Chính phủ Canada kêu gọi Ai Cập phải tận dụng mọi biện pháp để giải quyết trường hợp Mohamed Fahmy và phải thả ông về Canada. Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Anh bày tỏ “rất quan ngại” đối với bản án chống lại các nhà báo. 

Ngoại trưởng Hà Lan Bert Koenders cũng lên tiếng kêu gọi chính quyền Thống chế al-Sissi trả tự do cho các nhà báo, trừ phi chứng minh được họ phạm tội. 

Theo Ủy ban Bảo vệ Nhà báo CPJ (Commitee to Protect Journalists), hiện nay có ít nhất 18 phóng viên bị giam trong các nhà tù Ai Cập vì bị cáo buộc theo MB. Lãnh đạo của tổ chức chính trị này là Tổng thống bị lật đổ Morsi, lãnh bản án tử hình với tội danh “phản quốc”.
Khổng Hà - Cand online (tổng hợp)
TỰ DO BÁO CHÍ DƯỚI GÓC NHÌN TỪ PHƯƠNG TÂY

TỰ DO BÁO CHÍ DƯỚI GÓC NHÌN TỪ PHƯƠNG TÂY

11:21 1 Comment
Sự hiểu biết về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở phương Tây sẽ giúp chúng ta nhìn nhận và đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam. Một sự thật không thể phủ nhận là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng, đã liên tục được cải thiện, phát triển trong các thập niên vừa qua.

LTS: Tự do báo chí theo kiểu phương Tây là khái niệm mà nhiều người vin vào để phê phán nền báo chí cách mạng Việt Nam, từ đó lấy cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Tuy nhiên, có thực tế là rất nhiều “yêng hùng bàn phím” nói về tự do báo chí thao thao bất tuyệt như thể họ là “chuyên gia”, song kỳ thực, phần lớn số này chưa bao giờ trải nghiệm thực tế tự do báo chí ở phương Tây để hiểu sự thể ra làm sao, từ đó mới có vốn sống so sánh với báo chí nước nhà. Chúng tôi xin đăng bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng, hiện đang sinh sống tại CHLB Đức, có nhiều thời gian tìm hiểu, tiếp xúc, làm việc với cơ quan báo chí phương Tây, qua đó cho thấy hiện thực không như nhiều người lầm tưởng.

Quy định pháp lý về tự do ngôn luận và báo chí ở các nước phương Tây về cơ bản là giống nhau, đôi khi cả về hoàn cảnh lịch sử. Thí dụ, theo Hiến pháp Hoa Kỳ, có hiệu lực từ năm 1791, thì Quốc hội Mỹ không được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng theo một đạo luật của năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền.

Ðể truy cứu trách nhiệm hình sự vì vi phạm lĩnh vực này, Ðiều 2385, Chương 115, Bộ luật Hình sự Mỹ ghi rõ: Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng, tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực.

Còn ở Pháp, trong tiến trình Cách mạng 1789, tự do báo chí đã được đề cập, cụ thể là trong Ðiều 11 Tuyên bố dân quyền và nhân quyền. Về sau, tinh thần của Ðiều 11 cũng là một trong các cơ sở cho sự ra đời của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Hiệp ước nhân quyền châu Âu năm 1950. Một đạo luật về tự do báo chí cũng được ban hành trong Nền cộng hòa thứ ba vào ngày 29/7/1881. Ðạo luật 1881 cũng nêu rõ các giới hạn trong tự do báo chí vì sự lạm dụng tự do, cụ thể là đưa ra các định nghĩa về tội phạm báo chí. Về cơ bản, cho đến nay đạo luật này vẫn còn giá trị.

Ở Pháp cũng như ở các nước phương Tây khác, tự do báo chí trước tiên không phải là vấn đề văn bản pháp lý liên quan, mà là việc thực thi. Mấy năm trước, khi Tổng thống Nicolas Sarkozy còn đương nhiệm, một cuộc cải cách đã được thực hiện, theo đó việc lựa chọn các giám đốc của một số đài phát thanh và truyền hình do tổng thống quyết định. Ở Pháp, những năm qua, một số nhà báo đã gặp khó khăn với Cảnh sát và cơ quan tư pháp. Trong nhiều cuộc biểu tình, một số nhà báo bị bắt, các hình ảnh họ chụp hay thu được bị tịch thu.

Nhưng bê bối lớn nhất là việc phanh phui cơ quan tình báo Pháp do thám, nghe trộm điện thoại của các nhà báo làm việc cho nhật báo Le Monde năm 2011. Các phương tiện truyền thông cho rằng, trong việc này, Chính phủ Pháp đã cố ý nói dối và vi phạm tự do báo chí có hệ thống (?!).

Nhìn sang một nước khác - Italia, theo đánh giá của một số tổ chức quốc tế thì tình hình tự do báo chí trong các năm gần đây khá phức tạp. Thị trường báo chí được chia thành bốn nhóm, gồm: nhóm Editoriale LEspresso (La Republica), nhóm Ridoli với chủ sở hữu chính là gia đình La Stampa, nhóm các nhà xuất bản độc lập (II Giorno) và nhóm Becluscolni.

Nhiều người lo ngại trước “tiến trình Becluscolni” toàn bộ hệ thống truyền thông ở Italia. Về phần mình, các chính phủ ở Italia cũng tìm cách gây áp lực với báo chí. Thí dụ, năm 2011 một dự thảo luật được đưa ra bàn bạc, theo đó thì nhà báo (rất khác với các cá nhân khác) có thể bị phạt tù vì tội vu khống. Ðặc biệt là ở Italia nhiều nhà báo đã bị đe dọa đến tính mạng, nếu họ viết về tội phạm và hoạt động của mafia.

Ở CHLB Ðức, theo quy định của Ðiều 5 Ðạo luật cơ bản (tức Hiến pháp) thì mọi người có quyền thể hiện quan điểm của mình qua hình ảnh, lời phát biểu, bài viết trên sách báo, hay phát tán qua phát thanh, truyền hình; vì tự do báo chí là một phần của tự do ngôn luận. Trong đó cũng ghi rõ “không có sự kiểm duyệt”, nhưng điều đó không có nghĩa, người viết hoàn toàn tự do, không cần phải quan tâm tới các quy định pháp lý.

Theo các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp CHLB Ðức, các quy định cụ thể về tự do báo chí lại thuộc về thẩm quyền của các tiểu bang. Vì vậy, mỗi tiểu bang đều có Luật Báo chí (Pressegesetz) riêng. Cơ sở pháp lý trực tiếp nhất của Luật Báo chí là Hiến pháp tiểu bang. Vì thế, Luật Báo chí không chỉ ghi cụ thể các quyền lợi, trách nhiệm mà cả giới hạn của báo chí phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của khu vực mình.

Thí dụ, Ðiều 1 Luật Báo chí ở tiểu bang Bavaria ghi rõ: Tự do ngôn luận và báo chí được bảo đảm qua các Ðiều 110, 111, 112 Hiến pháp Bavaria. Cần lưu ý, trong khoản 1, Ðiều 110 của Hiến pháp này viết về tự do ngôn luận và báo chí, song trong khoản 2 lại ghi rõ: Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Luật Báo chí của các tiểu bang tuy có một số điểm khác nhau, nhưng có một điểm rất giống nhau, như ở Tiểu bang Bavaria, điểm đó được ghi trong Ðiều 117 của Hiến pháp: Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp.

Ðể cụ thể hóa giới hạn về quyền tự do báo chí, có nhiều quy định cụ thể được ban hành trong các bộ luật của liên bang. Bên cạnh Cảnh sát hình sự liên bang và tiểu bang, ở CHLB Ðức còn có lực lượng của các cơ quan bảo vệ Hiến pháp cấp liên bang và tiểu bang. Ðây là các cơ quan tình báo đối nội. Trong các cơ quan này, có một lực lượng không nhỏ hằng ngày chuyên đọc sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử hình sự. Ðể ngăn ngừa những mối nguy hiểm từ các phương tiện truyền thông đối với thanh, thiếu niên, một cơ quan thanh tra liên bang đã được thành lập. Trừ các nhật báo và tạp chí chính trị, các ấn phẩm còn lại đều có thể bị cơ quan này kiểm duyệt và xử lý theo quy định…

Như vậy, sự hiểu biết về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở phương Tây sẽ giúp chúng ta nhìn nhận và đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam. Một sự thật không thể phủ nhận là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng, đã liên tục được cải thiện, phát triển trong các thập niên vừa qua.

Trên cơ sở đó, không thể chấp nhận hiện tượng một số cá nhân tự cho mình là “nhà báo độc lập”, rồi đưa ra ý kiến thiếu xây dựng. Bởi không thể coi là nhà báo, dù là “nhà báo độc lập”(!) khi chỉ đưa ra các tin tức và bình luận sai sự thật theo kiểu “không ưa thì dưa có giòi” để nói xấu chính quyền, phủ nhận những thành tựu mà chính họ đang được thụ hưởng.

Hồ Ngọc Thắng (CHLB Ðức)