Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế Giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế Giới. Hiển thị tất cả bài đăng

NẠN PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC VẪN CÒN TỒN TẠI Ở CÁC NƯỚC ĐƯỢC CHO LÀ CÓ NỀN VĂN MINH BẬC NHẤT TRÊN THẾ GIỚI

10:03 12 Comments

Loa phường

Tình trạng phân biệt chủng tộc luôn tồn tại trong lòng nước Mỹ, càng rõ ràng hơn với những người da màu, những người Mỹ gốc Phi. Vào những ngày cuối tháng 3, dư luận đặc biệt chú ý tới phiên tòa xét xử cựu cảnh sát được cho là đã gây ra cái chết của người đàn ông da màu George Floyd hồi tháng 5/2020. Vụ George Floyd đúng hơn là giọt nước tràn ly bởi tình trạng người gốc Phi bị kỳ thị, nhất là bị cảnh sát kỳ thị, không phải là điều hy hữu ở Mỹ.

Người biểu tình mang theo ảnh George Floyd

Có thể nói, nước Mỹ là quốc gia đa sắc tộc, gồm cả da trắng, da màu, da đỏ (American Indian - thường gọi là người Anh-điêng), người gốc Á da vàng, chưa kể một tỷ lệ lớn người Mỹ Latinh. Thế nhưng, luật bất thành văn, màu da vẫn là một tiêu chí để nhìn nhận, đánh giá một con người ở đây bởi nước Mỹ vốn là đất nước được biết đến một phần vì lịch sử gắn với nạn phân biệt chủng tộc.

Mới đây, một tay súng đã xả súng tại một siêu thị khiến ít nhất 10 người thiệt mạng ở thị trấn Buffalo thuộc bang New York, Mỹ, ngày 14/5/2022. Kẻ gây án đã bị bắt giữ. Giới chức địa phương cho biết tay súng đã khiến ít nhất 10 người thiệt mạng và 3 người bị thương trước khi bị bắt giữ. 4 trong số các nạn nhân là nhân viên siêu thị, số còn lại là khách hàng. Đây được cho là một tội ác hận thù và bị kích động bởi chủ nghĩa cực đoan bạo lực liên quan tới sắc tộc. 11 nạn nhân là người da màu và 2 nạn nhân là người da trắng. Vụ tấn công được thực hiện ở khu dân cư của người da màu và chỉ cách trung tâm của thị trấn Buffalo vài km.

Những người da trắng hay những người da màu đều không có tội, họ đều là những con người có quyền sống, có quyền được đấu tranh để đòi quyền lợi cho chính mình và cho cộng đồng nhưng không ai muốn có chiến tranh nổ ra, không muốn phải chứng kiến những cảnh mất mát đau thương. Mọi người có quyền bình đẳng như nhau, pháp luật công minh, ai gây tội sẽ bị trừng trị, không phân biệt giai cấp, màu da. Căng thẳng trong xã hội Mỹ và các nước Phương Tây những ngày này cho thấy phân biệt chủng tộc vẫn còn là một nỗi ám ảnh tiềm ẩn nhiều nguy cơ đeo bám nước Mỹ để rồi dễ dàng bùng nổ mỗi khi có “mồi lửa nhỏ”. Cái chết oan của những người da màu chứng tỏ nạn phân biệt chủng tộc vẫn tồn tại ở nước Mỹ, đồng thời mối quan hệ căng thẳng xưa nay trong xã hội Mỹ giữa các cộng đồng dân cư với lực lượng thực thi công vụ luôn sẵn sàng bùng phát bất cứ lúc nào.

Ở Việt Nam lại khác, không hề có sự phân biệt chủng tộc tại quốc gia này. Người nước ngoài đến Việt Nam, bất kể là người da trắng và người da màu đều được đối xử một cách công bằng. Thậm trí, Việt Nam còn có những hoạt động thiết thực dùng sức người, sức của, giúp đỡ các nước nghèo ở châu Phi - điều mà Mỹ và một số quốc gia được gọi là “có văn minh” chưa làm được.

Vì bất cứ lý do nào thì cũng phải thừa nhận rằng, kỳ thị chủng tộc và tình trạng phân biệt vẫn là căn bệnh trầm kha của nước Mỹ và nhiều nước Phương Tây, một khi tâm lý “da trắng thượng đẳng” còn tồn tại và cuộc sống của cộng đồng gốc Phi ở “xứ cờ hoa” chưa được cải thiện.

 

TỔNG THỐNG UKRAINE VOLODYMYR ZELENSKY ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI NOBEL HÒA BÌNH NĂM 2022

23:33 24 Comments

Loa phường

Một nhóm chính trị gia ở Châu Âu gần đây đã rất táo bạo khi đề cử Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho giải Nobel Hòa bình năm 2022. Thật nực cười khi thậm chí, họ còn cho rằng, ông Zelensky hoàn toàn xứng đáng nhận được giải thưởng này vì đã thể hiện xuất sắc khả năng lãnh đạo đất nước tuyệt vời trước sự tấn công của Nga. 


Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky được đề cử cho giải Nobel Hòa bình năm 2022

Khi đề xuất nói trên được đưa ra đã có nhiều ý kiến trái chiều. Một số người, trong đó phần lớn là mấy anh trời Âu tỏ ra khá đồng tình, xong không ít người cho rằng đây chỉ là chiêu bài của nhóm chính trị gia Châu Âu nhằm tâng bốc ông Zelensky để tiếp tục sử dụng ông này chống lại Nga.

Trước đó, chính nguyên thủ Ukraine cũng từng tuyên bố thừa nhận các cam kết về một nền dân chủ công bằng, sẽ thực hiện bất cứ điều gì để ngăn cản chiến tranh. Ông Volodymyr Zelensky nhấn mạnh: “Tôi muốn hòa bình... Người dân Ukraine muốn hòa bình. Chính phủ Ukraine muốn hòa bình và đang làm mọi cách để xây dựng nó”. Vâng, ông muốn hòa bình nhưng sao ông lại lãnh đạo đất nước mình qu công khai chống lại người anh em tốt để rồi phải nhận trái đắng?

Dù có đồng tình hay phản đối việc có nên đề cử ông Zelensky giải nobel Hòa bình hay không nhưng chung quy lại khi để xảy ra chiến tranh thì lỗi đầu thuộc về người đứng đầu nhà nước. Nếu Tổng thống Ukraine sáng suốt hơn trong việc lựa chọn đường lối đối ngoại thì có lẽ đất nước Ukraine sẽ không có tiếng súng đạn, người dân nước này cũng không phải chịu cảnh loạn lạc. Và giả sử nếu ông Zelensky có nhận được giải nobel đi chăng nữa thì chắc sẽ nhận được lời phản đối từ nhiều người dân Ukraine.

Còn nhớ, trước đây cũng có một số nhân vật chống đối chính trị ở Việt Nam được đề cử giải thưởng này, điển hình như: Blog Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay ả Phạm Đoan Trang,… nhưng việc đề cử chỉ là cho vui vì chẳng ai qua được vòng gửi xe. Hehe…

Thực chất việc đề cử giải nobel Hòa bình cho các nhân vật nói trên chỉ nhằm mục đích xây dựng “ngọn cờ”, qua đó tạo động lực cho các hành vi chống Việt Nam. Phải chăng, phía phương Tây cũng đang áp dụng chiêu trò này đối với Tổng thống Ukraine khi đang sử dụng ông là con bài chính trị?

Chẳng biết sau này ông Zelensky có đạt giải nobel Hòa Bình hay không, nhưng tôi cũng mong ông sáng suốt hơn nữa trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa đất nước ông với Nga, để cho người dân Ukraine được trở lại cuộc sống hòa bình. Còn nếu ông vẫn cứ một mực nghe theo Mỹ và phương Tây thì ông đang vô tình tự biến mình thành con rối chính trị của họ và càng làm cho tình hình trở nên căng thẳng hơn mà thôi.

Có thể khẳng định rằng việc đề cử ông Zelensky cho giải nobel Hòa bình chỉ là sự nịnh bợ, tâng bốc của nhóm chính trị gia Châu Âu nhằm lôi kéo ông Zelensky, qua đó, càng làm căng thẳng thêm tình hình ở Ukraine.

NGƯỜI DÂN UKRAINE BIỂU TÌNH TRƯỚC ĐẠI SỨ QUÁN MỸ

20:59 18 Comments

Thúy Kiều

“Hãy về Mỹ và đừng bao giờ trở lại”, “Hoa Kỳ là đất nước của chiến tranh và không có dân chủ”… là những khẩu hiệu mà người dân Ukraine sử dụng để gây áp lực với Mỹ trước cổng Đại sứ quán Mỹ tại Ukraine. Họ cho rằng chính Mỹ chứ không phải ai khác mới là khơi mào cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraine.

Người Ukraine biểu tình trước Đại sứ quán Mỹ

Thật vậy, chỉ vì những cạnh tranh nhất định với Nga mà Mỹ và phương Tây biến một đất nước Ukraine xinh đẹp, hòa bình trở thành một quốc gia đầy tiếng súng đạn.

Có thể nói, sự tính toán của Mỹ và NATO vượt trên tầm thế giới khi mà lựa chọn đất nước Ukraine trở thành quân cờ của họ. Giả sử nếu Ukraine gia nhập NATO, trong khi Nga không có phản ứng gì, thì đương nhiên Mỹ và NATO là những người hưởng lợi. Khi ấy mọi hoạt động của Nga, kể cả về mặt quân sự đều bị Mỹ và NATO kiểm soát.

Tất nhiên, Nga không muốn điều đó xảy ra, họ không thể khoanh tay đứng nhìn người em thân thiết của mình lại rơi vào tay kẻ xấu. Có thể phản ứng của Nga là hơi mạnh nên đã xảy ra một cuộc chiến tranh không đáng có. Nhưng kể cả khi nổ ra chiến tranh và sau này Ukraine không gia nhập NATO, thì Mỹ vẫn là người có lợi, bởi khi ấy họ thản nhiên kêu gọi những đồng minh của mình ra những lệnh trừng phạt đối với Nga. Điều này sẽ đẩy kinh tế của Nga rơi vào cảnh khủng hoảng.

Như vậy, có thể thấy, kẻ kích bác mới là người có lợi, còn hai anh em đánh nhau thì kiểu gì cũng có người sứt đầu mẻ chán.

Lẽ ra lãnh đạo và nhân dân Ukraine phải nhận thức được điều này sớm hơn, chứ để chiến tranh xảy ra mới nhận thức được thì cũng đã muộn. Nhưng muộn còn hơn không, nhận thức muộn còn hơn là cứ mãi sống trong sự u mê, ảo mộng mà Mỹ và phương Tây đã reo rắt.

Ở Việt Nam ta cũng thế, Mỹ và phương Tây cũng đã tuyên truyền trong chúng nhiều ảo mộng về những cái gọi là “giá trị Mỹ”, “nhân quyền kiểu Mỹ”… Đã có nhiều người nghe theo và trong đó không ít người đã phải vỡ mộng, thậm trí còn phải chịu những bán án nghiêm khắc trước pháp luật.

Quan trọng nhất là chúng ta phải nhận thức được ý đồ của họ từ xa, từ sớm, đừng để như Ukraine mà trở thành quân cờ để Mỹ và NATO thực hiện mưu đồ của mình.

Người dân Ukraine từng bị u muội trong một thời gian dài, đến hôm này thì họ nhận ra được bản chất, con người thật của Mỹ và NATO. Tuy nhiên, đáng buồn là người đứng đầu nước này vẫn còn đang ảo mộng, thậm trí còn lên sóng kêu gọi Mỹ hỗ trợ vì hoà bình.

NGƯỜI VIỆT HOÀN TOÀN KHÔNG BỊ TRÓI BUỘC BỞI TƯ DUY

21:35 13 Comments

 Hoa sữa

Tình hình Nga - Ukraine đã trở nên vô cùng căng thẳng sau khi Tổng thống Nga Vladimir Putin thông báo triển khai chiến dịch quân sự đặc biệt tại hai nước cộng hòa tự xưng Donetsk và Luhansk ở vùng Donbass thuộc miền Đông Ukraine. Tuy nhiên, không có một cuộc chiến tranh nào trên thế giới chỉ là chuyện giữa các bên tham chiến mà còn gây hệ lụy cho toàn thế giới trên nhiều lĩnh vực. Cả thế giới bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc xung đột Nga - Ukraine trong những ngày qua, không chỉ có những phát ngôn trên diễn đàn chính trị của các quốc gia mà câu chuyện này còn là vấn đề bàn tán sôi nổi của người dân thế giới, trong đó có Việt Nam.

NGƯỜI VIỆT HOÀN TOÀN KHÔNG BỊ TRÓI BUỘC BỞI TƯ DUY

Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, được thể hiện quan điểm của mình về cuộc đối đầu giữa hai nước cách xa Việt Nam hàng ngàn cây số. Tuy nhiên, những phát ngôn đó phải không vi phạm quy định pháp luật và làm sai lệch hình ảnh người Việt Nam. Mới đây, Đài Châu Á tự do (RFA) đăng tải bài viết “Người Việt trong xiềng xích”, một cách nhìn nhận phiến diện, thiếu khách quan, hoàn toàn sai lệch, cụ thể:

Thứ nhất, Đài RFA cho rằng “tờ VTC Now, trong các bài tường thuật về diễn biến xung đột biên giới Nga và Ukraine đã im lặng xóa bỏ tất cả những lời chỉ trích Tổng thống Nga Putin, nhưng lại để nguyên các nhận định về sai lầm của Ukraine khi dám chống lại Nga. Kể cả những ngôn ngữ tấn công Tổng thống Ukraine là Volodymyr Zelensky cũng được giữ lại một cách phiến diện”. Tuy nhiên, RFA lại không thể đưa ra dẫn chứng cho điều này, mà chỉ là những lời nói suông, lời nói không có căn cứ, quy chụp để bôi nhọ uy tín, chức năng, nhiệm vụ cung cấp thông tin của trang VTC.

Thứ hai, luận điệu mà RFA đưa ra rất sai lệch: “Ở Việt Nam, không khó để nhận ra một kiểu tình cảm tuyệt đối với nước Nga, trong các hoạt động quốc tế, và thậm chí là sự sùng bái cá nhân đối với riêng Putin, mà điều đó không chỉ ở những người dân bình thường, mà cả quan chức hay giới làm báo có dính líu cuộc đời với nước Nga”.

Đúng là rất nhiều người Việt dành tình cảm đặc biệt cho nước Nga và người dân Nga nhưng không phải là “tình cảm tuyệt đối”, cũng chẳng có “sự sùng bái cá nhân đối với Putin”. Bởi vì trong quá khứ và hiện tại, Liên Xô trước đây và nay là Nga luôn là đối tác chiến lược của Việt Nam, đồng hành, giúp đỡ Việt Nam trải qua các cuộc chiến tranh và cả công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này. Tuy nhiên, với xu thế toàn cầu hóa, quan hệ đối ngoại giữa các nước là “không có đồng minh vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích quốc gia là trên hết”, trong khi đó, quan điểm của Việt Nam là không liên minh, kiên kết với với bất kì quốc gia nào để chống lại quốc gia khác. Việt Nam và Nga là quan hệ đối tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, không có cơ sở nào nói Việt Nam có “tình cảm tuyệt đối” với Nga.

Nhìn lại trong lịch sử, Việt Nam đã chịu sự chèn ép của các nước lớn, mặc dù bên ngoài thì tỏ ra ủng hộ Việt Nam nhưng lại có những “cuộc đi đêm’ với nhau để đẩy nước ta vào thế bất lợi, có thể thấy rõ lúc Nga và Trung Quốc liên kết, hợp tác với nhau khi vụ việc Biển Đông “nóng” hơn bao giờ hết.

Điều đó để thấy rằng, Việt Nam không hề đứng về phe một nước, một tổ chức nào. Ngày 23-2, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam quan tâm theo dõi những diễn biến căng thẳng gần đây xung quanh tình hình Ukraine và kêu gọi các bên kiềm chế, tăng cường nỗ lực đối thoại, thúc đẩy các biện pháp ngoại giao nhằm giải quyết hòa bình các bất đồng trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực và trên toàn thế giới.”

Thứ ba, “Dính líu”, là một cách nói, và sự mô tả hoàn toàn đặc biệt dành cho hàng chục ngàn người Việt Nam ở phía Bắc, từng đi du học, lao động hợp tác hay có một thời gian sinh sống ở Nga. Ở các quán cà phê vỉa hè, những cuộc tranh cãi ở quán nhậu, rất dễ nhận ra đa số những người phía Bắc thường dành cảm tình cho nước Nga.”

Sự phân biệt vùng miền luôn là chiêu bài mà RFA hay các tổ chức phản động khác sử dụng nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chắc chắn du học, đi lao động hay có thời gian sinh sống ở một nước nào khác thì người Việt Nam luôn dành tình cảm tốt đẹp cho đất nước đó, nhưng tình cảm ấy không bao giờ lớn hơn tinh thần dân tộc, tình yêu quê hương đất nước Việt mình, không giống như những kẻ “bán nước cầu vinh” ở phương Tây kia.

RFA so đo, tính toán những lời lẽ trong cuộc nói chuyện thường ngày của một vài người dân mà quy chụp cho lối tư duy của người Việt thì đúng là một trang thông tin “bẩn”, thiếu uy tín. Người dân có quyền thể hiện quan điểm của mình miễn là phải tuân thủ quy định pháp luật mà không hề bị trói buộc tư duy. Người Việt hiện nay đã có dân trí cao hơn rất nhiều, đủ nhận biết bản chất xấu xa, phản động của RFA hay các trang tin phản động khác trên không gian mạng.

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ UKRAINE

16:21 18 Comments

Loa phường

Một sự thật phũ phàng mà phần đông người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới không muốn nhất cuối cùng đã xảy ra, khi tiếng súng vang vọng khắp nơi trên lãnh thổ Ukraine và sự im lặng đầy bất ngờ của thế giới phương Tây và sự đáp lại thất thanh của chính quyền Volodymyr Zelensky. Một Ukraine từng ngụp lặn trong những hứa hẹn hoa mỹ từ đồng minh Mỹ và NATO giờ đây đang phải đơn độc chống lại những quả tên lửa hành trình từ chính người anh em phía bên kia biên giới.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky

Nổ súng là điều không ai mong muốn, với người dân Ukraine thì có thể nói quyết định của ông Putin là một quyết định đầy tranh cãi. Nhưng với những người Nga và bản thân ông Putin thì họ có cái lý của họ. Giả sử trong tình huống Ukraine trở thành thành viên của NATO thì về mặt kỹ thuật, vũ khí và quân đội của Mỹ và châu Âu có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trên đường biên giới trải dài 2,295 km giữa Ukraine và Nga. Điều này sẽ điểm bất lợi đáng kể cho Nga, cũng là bất lợi cho một số nước láng giềng và quốc gia nhỏ khác.

Tất nhiên thì ông Putin và người dân nước Nga không muốn điều đó, và hệ quả xảy ra là điều có thể dự báo được. Khi mà trong quan hệ quốc tế, biện pháp quân sự luôn là chọn lựa cuối cùng của một nguyên thủ tỉnh táo - người phải hiểu rõ rằng nút bấm khai hỏa đồng nghĩa với rất nhiều tài nguyên khác của quốc gia mình trước hết phải mất đi và không thể đảo ngược được. Tuy nhiên, cái giá của chiến tranh không chỉ nằm ở những mất mát tài sản, vũ khí mà còn nằm ở thiệt hại từ các lệnh trừng phạt và thứ vô giá hơn chính là mạng sống của người dân vô tội.

Tòa nhà bị phá hủy sau khi trúng tên lửa ở thủ đô Kiev, Ukraine

Người dân Ukraine, trong đó có những Việt kiều, là những chủ thể đầu tiên bị ảnh hưởng của cuộc chiến; nhưng công bằng mà nói, họ phải chịu trách nhiệm với lá phiếu bầu của mình cho một danh hài trong một cuộc bầu cử được truyền thông phương Tây mô tả là hợp-hiến. Khi chứng kiến pháo kích trên đầu và những cái phủi tay lạnh lẽo của đồng minh, Ukraine đã có bài học cuối cùng về tư duy độc lập tự chủ, không lệ thuộc. Có trách thì hãy trách những người đứng đầu Ukraine khi mà họ “gió chiều nào xoay chiều đấy”. Chính họ được người anh em tốt là Nga bao bọc trong nhiều thập kỷ xong vẫn cố tình “đi đêm” với Mỹ và các nước Phương Tây, giúp các nước này mưu đồ hãm hại người anh em tốt của mình. Vậy thì liệu có động đến lòng tự ái của người anh em tốt đấy hay không???

Thấy chiến tranh mới biết quý hòa bình. Nhìn cái giá phải trả của một quốc gia lệ thuộc đến mức la liếm như Ukraine mới hiểu rằng để một đất nước như Việt Nam, có vị trí địa lý đặc biệt bên cạnh một thằng hàng xóm hung hăng và sự ve vãn thương mại cây gậy và củ cà rốt của phương Tây.

Thậm chí là mấy anh chị hải ngoại còn từng ngày tuyên truyền, kích động nhằm hướng chúng ta thân phương Tây, rồi đưa ra những luận điệu chống Trung Quốc, cuối cùng là muốn Việt Nam xảy ra chiến tranh. Xong, thực tế chúng ta vẫn tồn tại và phát triển bền vững, đó là nhờ vào chính sách tự chủ tự cường mà thôi.

Phải nói rằng, với người dân yêu chuộng hòa bình thì chúng ta đều không mong muốn chiến tranh xảy ra, những mất mát về tài sản, vũ khí không thể sánh được với những mất mát về mặt con người, nhất là những người dân vô tội. Nhân đây chúng ta cũng thấy được bài học đắt giá từ Ukraine - một quốc gia không có tự lực, tự cường; một quốc gia không có những người lãnh đạo cứng rắn, đủ tầm để lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn. Mong rằng những người dân vô tội và cả đất nước Ukraine sớm được bình yên!!!

10 SỰ KIỆN QUỐC TẾ NỐI BẬT NĂM 2021

20:50 6 Comments

 Làng Quê

2021 một năm nhiều biến động, hãy cùng nhìn lại những sự kiên quốc tế tiêu biểu của năm 2021

1. Cuộc chiến với các biến thể mới

Năm 2021, cuộc chiến chống dịch COVID-19 vẫn tiếp tục với sự xuất hiện của các biến thể mới. Biến thể Delta trở thành mối quan ngại toàn cầu khi gây ra những làn sóng dịch bệnh nghiêm trọng.

Một chiến dịch tiêm chủng lớn nhất được triển khai trên toàn cầu. Thế giới đã có 10 loại vaccine được WHO phê chuẩn và các loại thuốc điều trị, nhưng tình hình vẫn rất khó lường trước các biến thể mới.

Cuối năm 2021, nhiều nước trên thế giới tái phong tỏa, hủy bỏ hoạt động mừng năm mới vì lo ngại trước biến thể mới Omicron. Cuộc chiến chống COVID-19 vẫn chưa thể kết thúc.

2. Cú sốc kinh tế trong đại dịch

Các lệnh phong tỏa chống dịch COVID-19 khiến sản xuất bị đứt gãy. Kinh tế thế giới năm 2021 phục hồi trong sự bấp bênh, ước tính ở mức 5,9%.

Giá dầu vượt mốc 80 USD/thùng, cao nhất trong 7 năm. Giá khí đốt châu Âu trong một năm tăng gấp 4 lần, lên mức cao kỷ lục. Khan hiếm năng lượng, cắt điện luân phiên, một cuộc khủng hoảng năng lượng khiến nhiều quốc gia lao đao.

3. ASEAN khẳng định vị thế

Năm 2021, ASEAN khẳng định vị thế với việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc và Australia, trao quy chế đối tác đối thoại đầy đủ cho Vương quốc Anh.

ASEAN cũng đạt được đồng thuận 5 điểm về giải quyết tình hình Myanmar, nhất trí thúc đẩy hợp tác ứng phó với COVID-19. Với việc Hiệp định thương mại điện tử có hiệu lực đầu tháng 12, ASEAN đã trở thành khu vực đầu tiên ký kết, triển khai một hiệp định về thương mại số.

Trong khó khăn dịch bệnh, ASEAN vẫn khẳng định được vai trò trung tâm và kiên định với các mục tiêu xây dựng cộng đồng.

4. Tập hợp liên minh mới

Chuyển động chính trị thế giới tiếp tục với tâm điểm là khu vựcẤn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Nhóm Bộ tứ Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia lần đầu nhóm họp. Liên minh mới AUKUS (Anh, Mỹ, Australia) được thành lập, tập trung vào hợp tác quân sự.

Một sân chơi chính trị của thế kỷ 21 dần hình thành với nguy cơ xung đột lợi ích.

5. Căng thẳng Nga – Phương Tây

Năm 2021, căng thẳng giữa Nga với Ukraine và phương Tây lên cao. Các bên tăng cường triển khai lực lượng quân sự tới sát khu vực biên giới của nhau, cả trên bộ cho tới biển Baltic và Biển Đen.

 

Giữa tháng 12 này, lần đầu tiên Nga nêu dự thảo Hiệp ước 8 điểm nhằm giảm căng thẳng với phương Tây. Nếu không sớm có lối thoát, chỉ một "mồi lửa" cũng khiến quan hệ Nga - phương Tây bị đẩy đến bờ vực đổ vỡ.

6. Bước ngoặt Afghanistan

Chiếc máy bay C-17 sơ tán công dân Mỹ cuối cùng rời Afghanistan vào ngày 30/8/2021, khép lại cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ sau 20 năm.

Taliban lên nắm quyền, tuyên bố xây dựng một nhà nước mới với tên gọi Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan. Sau 2 thập kỷ xung đột, Afghanistan giờ là mảnh đất của nghèo đói, 22 triệu người thiếu lương thực, viện trợ bị cắt, tài sản ở nước ngoài bị phong tỏa và vẫn chưa có quốc gia nào chính thức công nhận chính quyền Taliban.

7. Khủng hoảng di cư

Đói nghèo, xung đột và giờ là cả khó khăn dịch bệnh thôi thúc dòng người di cư đi tìm miền đất hứa, từ Trung Đông qua Belarus để tới các nước châu Âu, hay từ Trung Mỹ qua Mexico để tìm đường vào Mỹ.

Năm 2021, vấn đề người di cư bùng nổ thành căng thẳng ngoại giao, một cuộc tranh cãi không hồi kết giữa nhân đạo và an ninh quốc gia. Bất chấp hiểm nguy, hành trình tới miền đất hứa vẫn tiếp diễn, giấc mơ đổi đời nhiều khi trở thành ác mộng cuối đời.

8. Điểm giới hạn khí hậu

Tháng 7/2021 trở thành tháng nóng nhất trong lịch sử. Mật độ khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển tăng lên mức kỷ lục. Thiên tai nối tiếp thiên tai. Trái đất bước tới điểm giới hạn buộc phải hành động ứng phó.

Tại Hội nghị COP26, 100 quốc gia đạt cam kết chấm dứt nạn phá rừng, cắt giảm 30% lượng phát thải khí methane vào năm 2030.

9. Thể thao đỉnh cao trong đại dịch

Từ Euro 2020 tại châu Âu cho tới Olympic Tokyo 2020 ở Nhật Bản, các sự kiện thể thao quy mô lớn vẫn diễn ra dù trong không khí trái ngược nhau, cho thấy nỗ lực lớn của thế giới để tìm ra cách thích ứng và sống chung với dịch bệnh.

10. Mọi giới hạn bị xóa bỏ

Một góc nhìn về tương lai có thể thấy được trong năm 2021 này, một thế giới nơi con người sống, làm việc và tương tác với nhau qua thế giới ảo Metaverse, một thế giới mà tài sản thật được mã hóa và mua bán nhờ công nghệ blockchain. Những chuyến bay tư nhân đầu tiên đưa người lên không gian với tham vọng tìm kiếm một ngôi nhà mới ngoài Trái đất.

Công nghệ đang phá bỏ mọi giới hạn về cách mọi người hình dung tương lai loài người sẽ như thế nào.

(Nguồn VTV News)

20 NĂM SAU VỤ KHỦNG BỐ NGÀY 11/9: NƯỚC MỸ ĐƯỢC VÀ MẤT GÌ?

19:12 14 Comments

Loa phường

Vụ khủng bố 11/9 diễn ra trên đất Mỹ khiến cho toàn thể người dân thế giới bàng về sự khốc liệt của chủ nghĩa khủng bố. Đến nay, nhiều người vẫn đặt ra câu hỏi nước Mỹ được gì và mất gì sau vụ khủng bố này.

Tòa tháp đôi tại New York bốc cháy ngùn ngụt sau khi bị máy bay đâm vào ngày 11/9/2001

Vụ khủng bố này có thể tóm tắt lại như sau: cách đây 20 năm, 19 tên khủng bố - không tặc - đã chiếm quyền điều khiển của 4 máy bay thương cỡ lớn rồi lần lượt tấn công các mục tiêu gồm: hai máy bay lao thẳng vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (World Trade Center) tại thành phố New York, một máy bay khác đâm vào Lầu Năm Góc (trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ) tại Washington trong khi chiếc còn lại bị rơi xuống một cánh đồng ở Shanksville, Pennsylvania.

Hậu quả là đã khiến 2.996 người thiệt mạng và khoảng gần 10.000 người bị thương và ngày càng có nhiều người bị bệnh và tử vong vì tiếp xúc với bụi và các chất ô nhiễm độc hại ở khu vực bị đánh bom trong những tuần và tháng sau khi các tòa tháp đổ sập. Bên cạnh những mất mát về người là cảnh tượng đổ nát của một trong những tòa nhà cao nhất lúc bấy giờ và sự hoang mang tột độ của những người may mắn sống sót chứng kiến vụ việc. Đây là những điều mà nước Mỹ phải hứng chịu sau vụ khủng bố ngày 11/9.


Người dân Mỹ tháo chạy khỏi đống đổ nát

Vậy thì nước Mỹ được gì? Có lẽ cái được lớn nhất mà họ nhận đó chính là bài học, đó chính là bài học về nền dân chủ kiểu Mỹ. Nước Mỹ vẫn luôn “vỗ ngực” rằng họ là quốc gia có nền dân chủ tiên tiến nhất thế giới, họ luôn muốn ban phát sự văn minh của mình bằng việc can thiệp vào công việc nội bộ và tham gia vào việc đánh giá nền dân chủ của quốc gia khác. Tuy nhiên chính ở quốc gia họ, người dân vẫn luôn sống trong nỗi lo lắng về chủ nghĩa khủng bố.

Sau vụ tấn công khủng bố, người dân Mỹ đã nhận được những lời hứa “bảo vệ nền dân chủ” từ những người hữu trách. Nhưng những gì họ thực hiện sau 20 năm lại trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với nền dân chủ Mỹ bằng cách biến các thành phố của nước Mỹ thành các khu vực giám sát an ninh. Nước Mỹ đã chi hàng tỷ đô la để bảo vệ “lối sống của mình” nhưng kết quả đã được chứng minh là hoàn toàn vô dụng và chẳng ai có thể biết được liệu có thể xoay ngược được xu hướng này hay không.

Vụ khủng bố ngày 11/9 để lại hậu quả vô cùng nặng nề cho người dân nước Mỹ, nhất là đối với nạn nhân và người nhà của các nạn nhân thiệt mạng trong vụ khủng bố. Không một quốc gia nào muốn để xảy ra khủng bố bởi sự tàn khốc của nó là không thể lường trước được.

Nhân sự kiện 20 năm sau vụ khủng bố ngày 11/9, xin được gửi tới lời chia buồn sâu sắc tới toàn thể người dân nước Mỹ nói chung và người nhà của các nạn nhân xấu số nói riêng. Họ đều là những người vô tội nhưng phải hứng chịu thảm cảnh mà chủ nghĩa khủng bố gây ra.

Chúng ta luôn mong muốn rằng sẽ luôn được sống trong một môi trường hòa bình, ổn định, không có khủng bố, không có chiến tranh để không có người dân vô tội nào phải chịu thiệt mạng do khủng bố, chiến tranh gây ra. Đây cũng là bài học cho nước Mỹ trong việc luôn tung hô về nền dân chủ của mình trong khi còn chưa đảm bảo sự an toàn cho người dân của họ.

GÓC NHÌN TỪ CUỘC CHIẾN Ở AFGHANISTAN

18:06 11 Comments

 Loa phường

Có vẻ như Hoa Kỳ vẫn chưa thể "mở mắt" từ bài học Việt Nam khi đã dựng lên một chính quyền bù nhìn, ăn bám, vô tác dụng và thối nát ở Afghanistan. Chính vì vậy Hoa Kỳ cũng đã sa lầy ở đây gần 20 năm.

Trong một cuốn sách ra đời năm 2020, cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert Gates nhận xét Mỹ lẽ ra cần rút sớm khỏi Afghanistan: "Bắt đầu là một trong những chiến dịch quân sự nhỏ nhất, ít tốn kém nhất, ngắn nhất, thành công nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và rồi đã biến thành một cuộc xung đột kéo dài nhiều thế hệ, cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của chúng ta."


Nhiều người tháo chạy khỏi Afghanistan

Theo giới chuyên gia, nguyên nhân của sự thất bại cay đắng này xuất phát từ chính phủ của Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani. Các Bộ Quốc phòng và Nội vụ nổi tiếng là tham nhũng, cộng với thái độ kém cỏi, năng lực lãnh đạo yếu và tình trạng tư lợi diễn ra ở khắp nơi. Đây cũng được coi là một chính phủ bù nhìn do Mỹ lập ra.

Nhiều người cho rằng cuộc chiến ở Afghanistan giống như những gì đã diễn ra ở miền Nam Việt Nam. Thực ra cũng có điểm giống là đều chiến đấu với một chính quyền bù nhìn, tuy nhiên, hai cuộc chiến này khác về bản chất.

Phát biểu của ông Joe Biden

Taliban cũng không thể so sánh với Quân đội nhân dân Việt Nam, bởi Taliban không phải là một đội quân chính nghĩa, không phải đội quân do nhân dân lập nên, thậm chí còn được quốc tế liệt vào danh sách khủng bố bởi những chính sách hà khắc, tàn bạo. Đội quân làm nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là Quân đội nhân dân Việt Nam, một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Chiến thắng ở Việt Nam là chiến thắng của dân, do dân và vì dân. Đây là cuộc chiến thống nhất, không phải là một cuộc chiến tranh giành quyền lực hay sức ảnh hưởng, không phải là một cuộc chiến vì tôn giáo. Còn cuộc chiến ở Afghanistan đơn giản là chống lại một chính quyền bù nhìn do chính Mỹ lập ra.

Có thể nói, một lần nữa Hoa Kỳ lại phạm phải sai lầm vì đã dựng lên một chính quyền bù nhìn, ăn bám và bất lực ở Afghanistan, y như cái cách mà trước đây họ đã từng làm ở miền Nam Việt Nam, để rồi giờ đây họ buộc phải chấp nhận cắt bỏ cái đuôi thừa vô tác dụng đó nếu họ không muốn tiếp tục bị sa lầy và tổn thất.

Vậy là sau hàng thập kỷ, chúng ta lại thấy một chính quyền “dân chủ” giả cầy nữa của Mỹ đứng trên bờ vực sụp đổ. Cũng từng ấy năm chúng ta lại được tận mắt chứng kiến cảnh máy bay trực thăng Mỹ bốc từng đoàn người trên các tòa nhà ngoại giao của Mỹ; thấy được cảnh từng đoàn người chen lấn xô đẩy để giành sự sống, để được hưởng một nền dân chủ nơi đất Mỹ. Nhưng cũng chính điều này đã làm cho một số người phải bỏ mạng khi không kịp nhảy vào khoang máy bay. Điều này càng làm cho chúng ta thấy sự thất bại của một nền “dân chủ kiểu Mỹ”.

Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng chúng ta đều thấy được bản chất của nền “dân chủ” kiểu mỹ sau hai cuộc chiến ở Afghanistan năm 2021 và những gì đã xảy ra Việt Nam năm 1975. Chính vì thế, những ai còn muốn khóc thuê, hay thậm chí là tôn vinh nền dân chủ ở Mỹ thì hãy nhìn nhận lại.

ĐIỀU GÌ CHO “KỶ NGUYÊN MỚI”?

10:30 9 Comments

Nước Mỹ trở lại và Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) năm 2021 (vừa khép lại ngày 13-6 tại Anh) trở thành tâm điểm chú ý của giới quan sát quốc tế với rất nhiều kỳ vọng - những sự trông đợi về gắn kết và hồi phục.

Ở rất nhiều khía cạnh, những gì được vạch ra trong bản thông cáo chung bế mạc hội nghị đều có thể xem là các tín hiệu lạc quan, về một thế giới tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, thực tế tương lai gần vẫn có thể có nhiều biến đổi màu sắc của những tia hy vọng đó.

Kinh tế, vaccine và môi trường

1 tỷ liều vaccine COVID-19, thông qua cả những chương trình hỗ trợ trực tiếp lẫn COVAX - cơ chế chia sẻ vaccine do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khởi xướng, nhằm phân phối công bằng nguồn vaccine ngừa COVID-19 cho các nước nghèo trên thế giới - là điều được đích thân đương kim Thủ tướng Anh Boris Johnson thông báo, với tư cách người chủ trì hội nghị.

Bên cạnh nỗ lực ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh này, G7 cũng đưa vào chương trình nghị sự một vấn đề khác liên quan đến sự tồn vong của nhân loại: Biến đổi khí hậu. Và sau những cuộc thảo luận, những quốc gia phát triển đó (Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada, Italy) cũng đã đạt được đồng thuận, về chuyện cam kết cung cấp nhiều viện trợ hơn cho các nước bị ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, đồng thời loại bỏ dần các khoản đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch.

ĐIỀU GÌ CHO “KỶ NGUYÊN MỚI”?

Hạm đội Thái Bình Dương của Nga

Trong “Hiệp ước về thiên nhiên” (Nature Compact) được công bố ngày 13-6, các nhà lãnh đạo G7 cam kết giảm gần một nửa lượng khí thải carbon vào năm 2030 so với năm 2010, đồng thời ngăn chặn tình trạng mất đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, G7 cũng cam kết chi hàng trăm tỷ USD cho dự án “Xây dựng lại thế giới tốt đẹp hơn” (B3W) để đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng cho các nước có thu nhập thấp và trung bình, nhằm xây dựng quan hệ đối tác tiêu chuẩn cao, minh bạch.

Nhìn từ bất cứ góc độ nào, những tuyên bố này cũng rực lên màu hồng. Chúng hứa hẹn một cách rõ ràng rằng G7 - cũng có nghĩa là những lá cờ đầu của phương Tây - sẽ hành xử có trách nhiệm vượt bậc so với hiện tại, nhằm giải quyết những vấn đề chung lớn nhất đang đe dọa loài người, từ bệnh dịch, thiên tai đến những hố ngăn cách giàu nghèo.

Và không thể phủ nhận, việc Tổng thống Mỹ Joe Biden tham dự - như cách đưa nước Mỹ trở lại với vai trò chính trong những vận động của dòng chảy sự kiện quốc tế, điều mà ông tuyên bố sẽ thực hiện nhằm đảo ngược chiến lược đối ngoại của người tiền nhiệm Donald Trump - đã thực sự mang tới cho Hội nghị thượng đỉnh G7 luồng sinh khí mới.

2 năm qua, diễn đàn này không thể tổ chức các cuộc thảo luận trực tiếp, vì các hệ lụy của dịch COVID-19. Song, từ trước đó, sự cứng rắn và chủ nghĩa biệt lập mà ông chủ cũ của Nhà Trắng theo đuổi cũng đã làm rạn nứt các mối quan hệ đồng minh truyền thống và làm đóng băng những kế hoạch lớn, thông qua cách ứng xử “bất hợp tác” cũng như sẵn sàng gây sức ép với tất cả (bạn lẫn thù) của mình.

ĐIỀU GÌ CHO “KỶ NGUYÊN MỚI”?

Nhưng, hiện tại, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã có thể khẳng định, với một sự nhẹ nhõm khó che lấp: “Không phải thế giới sẽ không gặp bất kỳ vấn đề gì nữa, khi ngài Joe Biden trở thành Tổng thống Mỹ. Có điều, chúng tôi có thể hợp tác tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề đó với một động lực mới. Tôi nghĩ, thật tốt khi chúng tôi đã đoàn kết hơn tại hội nghị G7 lần này”. Và, trong thông cáo chung bế mạc, các nhà lãnh đạo hoan nghênh nỗ lực của Tổng thống Mỹ Joe Biden vì đã giúp G7 gắn kết trở lại sau “kỷ nguyên có quá nhiều bất đồng”.

Ở một diễn biến khác, trước đó một ngày, Nhà Trắng thông báo trong cuộc gặp trực tiếp chính thức đầu tiên kéo dài hơn 1 giờ giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden với người đồng cấp Pháp Emmanuel Macron bên lề Hội nghị thượng đỉnh G7, hai nhà lãnh đạo đã thảo luận một loạt vấn đề, từ nỗ lực an ninh y tế toàn cầu nhằm chấm dứt đại dịch COVID-19 trên thế giới, tới sự bất bình đẳng bắt nguồn từ toàn cầu hóa, thuế suất toàn cầu và liên minh xuyên Đại Tây Dương. 60 phút “đồng tâm nhất trí” đó giữa hai cường quốc phương Tây - hai người bạn cũ nhưng đã trở nên “bằng mặt không bằng lòng” (bởi những đòi hỏi đóng góp được đề cập một cách thẳng thắn đến thô bạo của cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump), suốt những năm qua, đã là điều không thể hiện hữu.

Và dĩ nhiên, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron khẳng định: “Chúng ta phải đối phó với đại dịch COVID-19. Chúng ta phải đối mặt với rất nhiều thách thức, rất nhiều cuộc khủng hoảng, cả tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Đối với tất cả những vấn đề này, điều chúng ta cần là sự hợp tác. Tôi nghĩ thật tuyệt khi có một Tổng thống Mỹ là một phần của câu lạc bộ và rất sẵn lòng hợp tác”.

ĐIỀU GÌ CHO “KỶ NGUYÊN MỚI”?

Với Tổng thống Nga Vladimir Putin, quan hệ Nga - Mỹ đã “tụt xuống mức thấp nhất”.

Những nỗi bất an

Song, tất cả những điều đó cũng mới chỉ là một nửa câu chuyện diễn ra tại Cornwall. Nửa còn lại hoàn toàn không mang đến nhiều hy vọng về bình yên và ổn định đến như vậy. Khác với tâm trạng hồ hởi đang dấy lên tại những quốc gia phương Tây, phần còn lại của thế giới có đầy đủ lý do để cảm nhận rõ những ý niệm về cạnh tranh và chia rẽ.

Một cách ngắn gọn, một trong những chất xúc tác quan trọng nhất nhằm xây dựng, thiết lập, củng cố và phát triển sự gắn kết hay tính đồng thuận, ngoài lợi ích chung cũng như riêng, còn là nhận diện những mối nguy hiểm đe dọa đến các lợi ích đó. Trong trường hợp cụ thể này, có thể nói, để tái tập hợp và để siết chặt lại các mối dây liên hệ, G7 cần có những địch thủ ngoại khối và đã điểm mặt chỉ tên những địch thủ đó.

Không có gì khó đoán, trong tuyên bố chung bế mạc hội nghị G7 (cũng như trong cả chương trình nghị sự trước đó), những trung tâm quyền lực quốc tế như Nga hay Trung Quốc được nhắc đến.

Với nước Nga, các nhà lãnh đạo G7 nhấn mạnh mong muốn xây dựng một mối quan hệ “ổn định và dễ đoán” hơn với Nga, triển khai hợp tác trong các lĩnh vực có cùng quan tâm. G7 hối thúc Nga khẩn trương điều tra, giải thích về việc sử dụng vũ khí hóa học trên lãnh thổ, ngừng mọi hành động gây tổn hại tới một số cơ quan truyền thông và tổ chức “xã hội dân sự” độc lập. Đồng thời, tuyên bố chung kêu gọi Nga xác minh, ngăn chặn, xử lý các cá nhân hoặc tổ chức trên lãnh thổ Nga thực hiện các cuộc tấn công mạng, hay lợi dụng tiền ảo để thực hiện hành vi tống tiền. Không chỉ vậy, tuyên bố chung còn kêu gọi Nga “ngừng các hành vi phá hoại, gây bất ổn”, bao gồm can thiệp vào tiến trình dân chủ của các quốc gia khác, tuân thủ các điều khoản và cam kết về đảm bảo quyền con người.

ĐIỀU GÌ CHO “KỶ NGUYÊN MỚI”?

Mối bang giao Mỹ - Pháp đã nồng ấm trở lại

Với Trung Quốc, tuyên bố chung khẳng định G7 sẽ duy trì hợp tác với Trung Quốc nhằm đối phó với các thách thức chung toàn cầu, như biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh học, trong khuôn khổ Hội nghị Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) và các thảo luận liên quan. Mặt khác, G7 sẽ tiếp tục thúc đẩy các giá trị, kêu gọi Trung Quốc tôn trọng quyền tự do cơ bản và các quyền con người, đặc biệt tại khu vực Tân Cương và Hong Kong (Trung Quốc) - những vấn đề nhạy cảm mà đương nhiên Bắc Kinh coi là “chuyện nội bộ”. Hơn thế, tuyên bố chung của thượng đỉnh G7 còn kêu gọi thực hiện một cuộc điều tra mới kịp thời, minh bạch do các chuyên gia khoa học của WHO tiến hành về nguồn gốc đại dịch COVID-19 tại Trung Quốc, theo báo cáo trước đó. Ngoài ra, các nhà lãnh đạo G7 cũng cam kết sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp, có cách tiếp cận phù hợp nhằm loại bỏ những chính sách, hành vi phi thị trường, gây tổn hại tới hoạt động tự do và công bằng của nền kinh tế thế giới.

Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Trung Quốc phản ứng khá gay gắt, sau những gì mà họ cho là “các cáo buộc dối trá và vô căn cứ” đó. Cũng không có gì bất ngờ, khi ngay trước thềm Hội nghị thượng đỉnh Nga - Mỹ (sẽ diễn ra ngày 16-6), Tổng thống Nga Vladimir Putin hé lộ rằng Hạm đội Thái Bình Dương của Nga đang thực hiện một cuộc diễn tập quân sự hỗn hợp với quy mô lớn. Điều này, thực tế, là để đáp lại một cuộc tập trận với quy mô tương tự từ khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Chưa bàn đến đúng sai trong tuyên bố chung của G7 thì cách mà những lời chỉ trích được đưa ra cũng đã mang đầy màu sắc thù địch. Cùng lúc đó, sau cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg cũng nói thẳng: “Chúng tôi sẽ không bước vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới và Trung Quốc không phải là đối thủ, cũng không phải là kẻ thù của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi cần cùng nhau giải quyết, với tư cách là liên minh, trước những thách thức mà sự trỗi dậy của Trung Quốc đặt ra đối với an ninh của chúng tôi”. Còn mối quan hệ NATO - Nga (hay nói đúng hơn là Nga - phương Tây) thì từ lâu đã “ở mức rất thấp” rồi, theo đánh giá của tất cả các bên.

Vậy thì, với những gì đang được bài binh bố trận, với những “chiến tuyến” đang được tái định hình, 1 tỷ liều vaccine COVID-19 (mà thực ra theo WHO thì phải cần tới 11 tỷ liều, để cung cấp đủ cho 70% dân số thế giới) cũng như những kế hoạch chống biến đổi khí hậu vừa được công bố liệu có đủ để thế giới bớt chia rẽ hơn? 

Nguồn: cand.com.vn

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG” - VẤN ĐỀ NHÌN TỪ MYANMAR

17:06 21 Comments

 


Việc chính phủ cầm quyền ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ sau một cuộc đảo chính của quân đội có lẽ sẽ là bài học đắt giá với rất nhiều chính đảng cầm quyền trên thế giới. Một trong những bài học đó là “phi chính trị hóa Công an, Quân đội”.

Sáng 1/2/2021, truyền thông trong nước và quốc tế đồng loạt đưa tin, Tổng thống Myanmar Win Myint, Cố vấn nhà nước Aung San Suu Kyi và một loạt nhân vật cấp cao khác của đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) cầm quyền bị Quân đội bắt. Người phát ngôn của NLD Myo Nyunt sau đó xác nhận thông tin và nói rằng với những gì đang diễn ra thực sự là một cuộc đảo chính.

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG” - VẤN ĐỀ NHÌN TỪ MYANMAR

Quân đội Myanmar ban bố tình trạng khẩn cấp ngay trong sáng 1/2 và tuyên bố quyền lực được giao lại cho Tổng tư lệnh Min Aung Hlaing. Quân đội Myanmar cũng tuyên bố sẽ kiểm soát chính quyền trong vòng 1 năm. Binh lính đã được triển khai bên ngoài tòa nhà chính quyền Thủ đô Naypyitaw và tòa thị chính thành phố Yangon. Hệ thống viễn thông, truyền hình, Internet ở Myanmar gián đoạn.

Việc quân đội Myanmar tiến hành đảo chính được xem là hệ quả tất yếu của những mâu thuẫn kéo dài giữa quân đội với chính phủ dân sự cầm quyền ở quốc gia này, kể từ sau cuộc tổng tuyển cử vào tháng 11/2020, với kết quả NLD giành thắng lợi áp đảo. Cụ thể, NLD thắng gần 400 ghế trong Quốc hội (hơn 60%), quân đội có 25% số ghế đương nhiên. Riêng Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP) được quân đội ủng hộ, chỉ giành được 30 ghế.

USDP không công nhận kết quả, cáo buộc có gian lận trong cuộc bầu cử và yêu cầu Ủy ban Bầu cử phải điều tra và giải quyết. Đảng này cho rằng có đến 10 triệu phiếu gian lận. Ngày 26/1, quân đội Myanmar ra tối hậu thư cho Ủy ban Bầu cử, tuyên bố sẽ hành động nếu ủy ban này không giải quyết cáo buộc gian lận về danh sách cử tri.

Ủy ban Bầu cử ngay lập tức phủ nhận có gian lận trên diện rộng, khẳng định bầu cử đã diễn ra một cách tự do, công bằng, đáng tin cậy và “phản ánh ý nguyện của người dân”. Tuy vậy, hơn 280 cáo buộc đang được điều tra và Tòa tối cao Myanmar bắt đầu xử lý khiếu nại về bầu cử từ ngày 29/1. Cuối cùng, chính biến đã xảy ra vào rạng sáng 1/2, chỉ ít giờ trước khi Quốc hội khóa mới họp phiên đầu tiên.

Cuộc chính biến ở Myanmar có thể sẽ để lại nhiều hệ lụy to lớn. Nó có thể đẩy nền dân chủ non trẻ ở Myanmar rơi vào khủng hoảng. Trong khi đó, việc đóng cửa các ngân hàng và những bất ổn chính trị sẽ gây tổn thất lớn cho nền kinh tế Myanmar vốn bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Mặt khác, đảo chính có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ các thỏa thuận giữa chính quyền với các nhóm nổi dậy. Điều này có thể một lần nữa đẩy Myanmar vào vòng xoáy của bạo lực.

Các lực lượng nổi dậy có thể có động cơ để chấm dứt các thỏa thuận ngừng bắn và tìm cách mở rộng ảnh hưởng. Một hệ lụy có thể đã thấy rõ, đó là các cuộc biểu tình của người dân. Cuộc đảo chính của quân đội Myanmar đã làm dấy lên làn sóng phản đối không chỉ trong nước mà cả cộng đồng quốc tế.

Một điều dễ nhận thấy rằng, tương tự như ở Thái Lan, quân đội ở Myanmar có vị thế đặc biệt và rất hay chấp chính. Tại Thái Lan, quân đội đã nhiều lần làm đảo chính và thiết lập chính quyền quân sự lâm thời. Trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, quân đội Myanmar không thực hiện nhiều cuộc đảo chính như Thái Lan nhưng thời gian họ nắm giữ chính quyền nhà nước lại kéo rất dài. Sau khi tiến hành đảo chính vào năm 1962, quân đội Myanmar đã duy trì chính quyền quân sự suốt từ năm đó đến năm 2011. Điểm chung giữa quân đội Thái Lan và quân đội Myanmar là không nằm dưới sự lãnh đạo của bất kỳ một chính đảng nào. Họ có quyền lực rất to lớn và được phép nắm quyền trong trường hợp khẩn cấp.

Tại sao quân đội Myanmar lại tiến hành đảo chính? Vì sao chính phủ dân sự ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ? Trong bài viết này, tác giả xin không đề cập. Vấn đề tác giả muốn đề cập trong bài viết này, đó chính là mối liên hệ giữa sự kiện vừa xảy ra ở Myanmar với vấn đề “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang đang được các thế lực thù địch, phản động rêu rao ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, thời gian qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi tam quyền phân lập; đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an được chúng xác định là một nội dung trọng tâm.

Những người này cho rằng, Công an, Quân đội phải “trung lập”, “đứng giữa”, không thuộc một đảng phái nào, “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”… Họ còn cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả” là giải phóng dân tộc, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”.

Có thể thấy rằng, đây là những luận điệu sai trái, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công an, Quân đội; làm cho lực Công an, Quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho lực lượng vũ trang bị vô hiệu hóa.

Với thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động không có gì khác là muốn làm cho lực lượng vũ trang nhân dân ta dần dần biến chất, từ lực lượng vũ trang của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản.

Thực tiễn khẳng định, không có một lực lượng vũ trang nào là "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ quân đội, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần cho lực lượng vũ trang của họ. Trong khi đó, thực tiễn cũng đã cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp (quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô), chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối năm 1991.

Cuộc chính biến ở Myanmar có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng sự kiện này có liên quan trực tiếp tới vấn đề “phi chính trị hóa” Công an, Quân đội. Từ cuộc chính biến ở Myanmar, một bài học sâu sắc được rút ra với chúng ta, đó là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong các lực lượng vũ trang.

Tuyệt đối không bao giờ được sa vào bẫy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch, phản động. Để thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, CAND nói riêng; không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức.

Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Nguồn: cand.com.vn