Hiển thị các bài đăng có nhãn tự do ngôn luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tự do ngôn luận. Hiển thị tất cả bài đăng

XUYÊN TẠC VỀ SỨC KHỎE LÃNH ĐẠO LÀ ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ

23:58 8 Comments

Huyền Pha

Một thực tế đang diễn ra là nắm bắt được nhu cầu thông tin của người dân về thông tin liên quan đến sức khỏe của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, một số phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị tung lên các trang mạng xã hội đủ các loại thông tin bịa đặt, suy diễn, đồn đoán về tình hình sức khỏa của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, chúng lợi dụng quyền tự do ngôn luận; triệt để sử dụng internet tán phát thông tin xuyên tạc một cách bài bản, có tổ chức để làm nghi ngờ trong dư luận.

Thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên do những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội trong nội bộ ta tung ra thường được thể hiện ở việc xuyên tạc, nói sai sự thật về tình hình sức khỏe cán bộ. Với chiêu trò cũ, mới đây nhân những tin tức được những phần tử xấu xuyên tạc trên vỉa hè, Việt Tân mới đây đã cố tình xuyên tạc về tình hình sức khỏe của người đứng đầu Bộ Công an Việt Nam - Đại tướng Tô Lâm bằng cách viết: “Sự vắng mặt của Bộ trưởng Tô Lâm trong nhiều ngày qua, cộng với những tin đồn đ.ột quỵ xuất hiện trên mạng xã hội, khiến nhiều người nghi ngờ sức khoẻ của vị tướng công an đang rất xấu”.

XUYÊN TẠC VỀ SỨC KHỎE LÃNH ĐẠO LÀ ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ

Ảnh: Thông tin xuyên tạc từ tổ chức khủng bố Việt Tân

Thông tin ngay lập tức thu hút sự chú ý của dư luận nhưng điều đáng nói ở đây là mọi sự chỉ có thể và không có thêm bất cứ điều gì mang tính bằng chứng. Điều đó khiến dư luận có quyền nghĩ rằng tất cả chỉ là trò tung tin nhảm nhí của tổ chức Việt Tân nhằm tấn công vào Bộ trưởng Bộ Công an.

Mục đích, ý đồ của Việt Tân là khá rõ ràng, khi dưới thời Bộ trưởng Bộ Công an Đại tướng Tô Lâm, thì tổ chức Việt Tân được Bộ Công an Việt Nam liệt vào danh sách tổ chức khủng bố. với hành loạt hành động mạnh tay trong đấu tranh, xử lý đối với các thành viên tổ chức này trong và ngoài nước. Chính vì vậy, tổ chức khủng bố Việt Tân từ lâu luôn nảy sinh tâm lý thù hằn đối với lực lượng công an Việt Nam nói chung và Bộ trưởng Bộ Công an nói riêng.

Nhưng rồi những âm mưu, hành động chống phá của tổ chức Việt Tân làm sao có thể gây ảnh hưởng cho lực lượng công an nói chung và cá nhân Bộ trưởng Bộ Công an nói riêng khi mà Bộ Công an Việt Nam dưới thời Đại tướng Tô Lâm đang thực sự tạo được những dấu ấn rõ nét trước nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Và chắc hẳn Việt Tân đăng tải bài viết trên trang fanpage của mình mà không đọc bài viết mới nhất trên báo điện tử Công an nhân dân xuất bản vào cuối ngày 30/5/2022 với tiêu đề: Vai trò lãnh đạo của Đảng quyết định thành công trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong đó, có nội dung rất đáng chú ý là: Đoàn kiểm tra số 8, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đánh giá cao Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phát hiện, điều tra tội phạm cũng như giám định, định giá tài sản khi giải quyết các vụ án tham nhũng, kinh tế, tiêu cực. Làm việc với Đoàn kiểm tra số 8, về phía Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an có Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an; Thiếu tướng Nguyễn Văn Long, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, các đồng chí trong Đảng ủy và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Công an.

Xem thêm tại link dưới đây: https://cand.com.vn/lanh-dao-bo-cong-an/vai-tro-lanh-dao-cua-dang-quyet-dinh-thanh-cong-trong-dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-i655465/

VẪN LÀ NHỮNG THÔNG TIN SAI LỆCH VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

21:24 57 Comments
Vô Danh
Vừa qua, trong báo cáo hàng năm, cái gọi là tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) tiếp tục đưa ra những kết luận có tính chất vu khống, vu cáo Nhà nước Việt Nam về vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Đài BBC tiếng Việt dẫn lời Ông Benjamin Ismail, Trưởng Ban Châu Á Thái Bình Dương của RSF xuyên tạc rằng: “Bằng việc tăng cường dùng các luật hà khắc, các chính phủ có khuynh hướng toàn trị hy vọng biện minh được cho nỗ lực siết ruyền thông và tiếng nói chỉ trích; Khi không đối phó được với quốc tế lên án, chính phủ các nước này nhanh chóng tung ra các nguyên tắc không can thiệp, chủ quyền hoặc thậm chí an ninh quốc gia nhằm né tránh các trách nhiệm nhân quyền quốc tế và bổn phận hiến định về bảo vệ tự do truyền thông và thông tin”.
Một báo cáo sai sự thật (Ảnh Internet)
Trước tiên cần khẳng định, tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền căn bản của con người được pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo đảm, được thể hiện sinh động trong đời sống xã hội.
Theo đó, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Luật Báo chí cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc “tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí…” “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.
Những năm qua, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng công chúng, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, năng lực tài chính cũng như sự tác động và ảnh hưởng xã hội tích cực của các cơ quan báo chí, truyền thông đều tăng nhanh. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, giai tầng, các hội nghề nghiệp, các giới, các tôn giáo lớn, các thành phần trong xã hội đề có tờ báo của mình.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông: Tính đến tháng 12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Mạng lưới phát thanh - truyền hình có 67 đài phát thanh - truyền hình Trung ương và địa phương. Hiện tại, Việt Nam có 178 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá, gồm 103 kênh chương trình truyền hình, 75 kênh chương trình phát thanh. Bên cạnh đó, tỷ lệ người dân sử dụng Internet cũng tăng lên đáng kể, tính đến đến tháng 12/2015, tại Việt Nam đã có 52% dân số sử dụng, cao hơn mức trung bình của khu vực châu Á (38,8%) và của thế giới (45%),…
Tuy nhiên, tự do báo chí không có nghĩa là vô tổ chức, là tự do thay trắng đổi đen, tự do “làm báo” trái pháp luật. Lợi dụng tự do báo chí, tự do Internet để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc, nhân dân và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là hành động không thể chấp nhận; thực chất đó là kiểu tự do vô chính phủ, trái với dân chủ. Những ai chống lại Tổ quốc, nhân dân, vi phạm pháp luật thì đều phải xử lý bằng pháp luật. Điều này là hiển nhiên mà bất cứ một quốc gia độc lập có chủ quyền nào trên thế giới, ngay cả ở những nước phát triển, cũng đều phải thực hiện. Tiêu biểu như, Khoản 3 Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Khoản 2 Điều 10 của Công ước Nhân quyền châu Âu đều quy định những giới hạn nhất định đối với quyền tự do ngôn luận, nhằm bảo đảm các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; cũng như nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội.
Việc Nhà nước Việt Nam xử lý hành động lợi dụng báo chí, lợi dụng Internet chống Tổ quốc và nhân dân là việc làm bình thường, cần thiết để bảo vệ pháp luật, đảm bảo quyền tự do báo chí đúng với nghĩa đích thực của nó, thực sự có ích đối với Tổ quốc và dân tộc, tránh bị lợi dụng, không bị hoen ố bởi những hành động trái pháp luật. Không thể vì thế mà quy chụp cho rằng, Việt Nam “vi phạm” tự do báo chí, tự do Internet. Không có nhà nước nào lại cho phép báo chí lợi dụng tự do để chống đối nhà nước, để gây “bất ổn xã hội”.
Thực tế nói trên cho thấy, những thông tin trong Báo cáo thường niên của tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) và lời phát ngôn của Ông Benjamin Ismail về tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam là vô giá trị./.

VỀ VIỆC TỔ CHỨC PEN AMERICA RA THƯ NGỎ ĐÒI TỰ DO CHO BA SÀM - NGUYỄN HỮU VINH

11:27 6 Comments
Vô Danh
Ngày 7/3/2017, đài RFA tiếng Việt đưa tin: Một bức thư ngỏ của Tổ chức Pen America vừa được đưa lên mạng kêu gọi mọi người ký tên để đòi tự do cho blogger Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy. Theo đó, “Bức thư” sẽ được gửi đến Viện trưởng viện Kiểm Sát nhân dân tối cao Lê Minh Trí cùng Bộ trưởng tư pháp Lê Thăng Long và Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân.
Pen America cho rằng: blogger Ba Sàm và Nguyễn Thị Minh Thúy đã bị bỏ tù và kết án vì thực hiện các quyền tự do bày tỏ ý kiến theo tuyên bố chung về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã phê chuẩn. Đây cũng là các quyền mà Hiến pháp Việt Nam đảm bảo cho người dân. Từ đó, Pen America bày tỏ sự “quan ngại” về phiên tòa kết tội blogger Ba Sàm và Nguyễn Thị Minh Thúy và đề nghị những người nhận thư kháng cáo lên tòa án tối cao để xóa bản án. Rõ ràng, những yêu cầu này hoàn toàn vô căn cứ, đi ngược lại những nguyên tắc, chuẩn mực ngoại giao quốc tế, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Bài viết đăng trên đài RFA tiếng Việt (Ảnh chụp màn hình)
Trước đó, vào ngày 5/5/2014, Cơ quan ANĐT Bộ Công an đã thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp và sau đó thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy vì đã có hành vi đăng tải các bài viết trên mạng Internet nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân.
Qua hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Tòa án tuyên phạt Nguyễn Hữu Vinh 5 năm tù và Nguyễn Thị Minh Thúy 3 năm tù về cùng tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, quy định tại Điều 258 BLHS.
Trở lại việc tổ chức Pen America ra thư ngỏ đòi tự do cho Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy, cần nhận thấy rằng: quyền tự do ngôn luận là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp; mọi quyền lợi đều phải gắn liền với nghĩa vụ và đặt trong những giới hạn, khuôn khổ phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội để bảo đảm rằng việc thực hiện quyền của người này không làm ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.
Lợi dụng tự do ngôn luận để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc, nhân dân và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là hành động không thể chấp nhận; thực chất đó là kiểu tự do vô chính phủ, trái với dân chủ. Những ai chống lại Tổ quốc, nhân dân, vi phạm pháp luật thì đều phải xử lý bằng pháp luật. Điều này là hiển nhiên mà bất cứ một quốc gia độc lập có chủ quyền nào trên thế giới, ngay cả ở những nước phát triển, cũng đều phải thực hiện.
Tội trạng của Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy đã được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ. Đầu năm 2014, Nguyễn Hữu Vinh đã lập blog “Chép sử việt” và blog “Dân quyền”. Sau đó, Vinh đã cung cấp mật khẩu truy cập và chia sẻ cho Nguyễn Thị Minh Thúy một số quyền quản trị đối với 02 blog này như: quyền viết bài, quyền chỉnh sửa bài viết, quyền xóa bài viết, quyền đăng tải bài viết lên blog, quyền kiểm duyệt ý kiến bình luận… Mỗi lần truy cập để thực hiện các nội dung quyền quản trị bị Nguyễn Thị Minh Thúy đều theo chỉ đạo của Nguyễn Hữu Vinh.
Từ khi lập blog đến khi hai bị cơ quan công an bắt giữ, blog “Dân quyền” đã đăng 2014 bài viết, còn blog Chép sử việt đăng 383 bài viết. Theo kết luận của Bộ Thông tin truyền thông, 24 bài viết có nội dung sai sự thật, không có căn cứ, tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ các cá nhân, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, đưa ra cái nhìn bi quan một chiều, gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo đất nước của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Nhà nước.
Đáng chú ý, trước thời điểm chính thức bị cơ quan ANĐT, Bộ Công an bắt, Nguyễn Hữu Vinh “khét tiếng” trong giới “dân chủ Việt” khi từng là người quản trị điều hành trang AnhBaSam - trang Blog lá cải hàng đầu chuyên bịa đặt tin, đăng tải các bài viết xuyên tạc lịch sử, bôi xấu chế độ, kích động chống phá chủ trương của Đảng và Nhà nước; không những vậy, đây là còn là nơi thu nạp, dung dưỡng nhiều đối tượng cơ hội, bất mãn, thoái hóa biến chất, “dân chủ cộm cán”, tiêu biểu như: Mai Thanh Hải, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Giang, Nguyễn Quang Lập, Bùi Minh Hằng, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Viết Đào, Nguyễn Tường Thụy…
Như vậy, với việc thường xuyên lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đăng tải các bài viết trên các trang mạng với những nội dung xấu, thông tin sai sự thật nhằm tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đất nước, gây mất ổn định chính trị - xã hội, việc Nguyễn Hữu Vinh và đồng đảng của mình là Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt, khởi tố điều tra và bị đưa ra xét xử về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 BLHS là hoàn toàn phù hợp, đúng với các quy định của pháp luật hiện hành.
Cần khẳng định, việc vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo pháp luật, đó là điều mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều thực hiện. Vì thế, việc tổ chức Pen America ra thư ngỏ đòi tự do cho các đối tượng Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy, rõ ràng là một đòi hỏi hết sức phi lý, phi pháp, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam./.

VỤ NHÀ BÁO PHÙNG HIỆU: QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TẠI VIỆT NAM ĐANG BỊ “BÓP NGHẸT”?

23:22 31 Comments
Vô Danh
Trong khi dư luận hết sức phẫn nộ về status phỉ báng Chủ tịch Fidel Castro của nhà báo Phùng Hiệu - Quyền phụ trách cơ quan phía Nam của tờ báo Nhà báo & Công luận thì đám “dân chủ” trong nước lại ráo riết tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.
Nhà báo Phùng Hiệu (Ảnh FNVN)
Bất chấp thực tế các quy định của luật pháp, các trang báo “lá ngón” như Anh Ba Sàm, Dân Luận… đã đăng tải nhiều bài viết tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “bóp nghẹt” quyền tự do ngôn luận của công dân với những lý lẽ, luận điệu hết sức phi lý, ấu trí khi cho rằng: “nhà báo Phùng Hiệu chẳng nói gì sai, anh chỉ nói sự thật. Một sự thật mà cả thế giới điều biết, chỉ có ở xứ ta u mê không chịu thừa nhận. Và hơn nữa, điều anh nói cũng là suy nghĩ của rất nhiều người, nhưng không ai đủ can đảm nói ra. Còn những người sùng bái Fidel, họ mắc căn bệnh sùng bái lãnh tụ. Căn bệnh này ở Việt Nam còn nặng lắm, nó ngấm vào máu, ngự trị trong não nên khó lòng thay đổi - các tín đồ có bao giờ tin vị thánh của mình là kẻ ác bao giờ”.
Để đánh lừa dư luận, đám “dân chủ” tự xưng viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về quyền con người, nhất là quyền tự do ngôn luận như tại: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Khoản 2, Điều 19)...  Điều 25 Hiến pháp 2013 về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí... nhằm bao che cho hành vi sai phạm của nhà báo Phùng Hiệu và quy kết “Cơ quan chủ quản báo chí làm trái luật; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí bị vi phạm một cách nghiêm trọng”.
Rõ ràng từ những lý lẽ, viện dẫn như vậy cho thấy cách hiểu và thực thi pháp luật của đám người trên là không khách quan, làm sai lệch bản chất vấn đề. Họ chỉ biết nhìn vào những điều khoản, quy định về quyền lợi mà cố tình bỏ qua nhiều điều khoản, quy định khác về nghĩa vụ kèm theo khi thực hiện các quyền đó.
Bởi ngay trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, Điều 12 quy định rõ:“Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy”.
Bên cạnh đó, tại khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị còn nhấn mạnh: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội”.
Thể chế hóa các quy định của luật pháp quốc tế về quyền con người, nước ta đã kế thừa phù hợp và từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật với đầy đủ các ngành luật, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm bảo đảm và phát huy tối đa quyền cơ bản của con người. Việc quy định các chế tài để hạn chế và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng quyền tự do cá nhân xâm hại lợi ích chính đáng người khác như trong BLHS và nhiều văn bản pháp luật khác là cần thiết và phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như các giá trị chuẩn mực của xã hội.
Cần khẳng định rằng, Chủ tịch Cuba Fidel Castro chính là một con người kiệt xuất đã cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do, công bằng, bác ái ở Cuba và nhiều nước trên thế giới. Không những vậy, Fidel Castro còn là nhà lãnh đạo xuất sắc trong Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, có đóng góp to lớn và tích cực cho Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống đế quốc cường quyền và áp đặt, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới trong hơn 50 năm qua. Đối với Việt Nam, Fidel Castro luôn mang trong mình một tình cảm đặc biệt. Trong hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi Cách mạng Cuba thành công, sau đó hai nước Cuba và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 2/12/1960, Chủ tịch Fidel Castro đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều thế hệ Lãnh đạo, nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, phát triển mối quan hệ đoàn kết anh em, hợp tác toàn diện và tin cậy lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước.
Rõ ràng, xuyên tạc, bôi nhọ Chủ tịch Cuba Fidel Castro là những kẻ kẻ đáng bị lên án. Đặc biệt, đối với một nhà báo như Phùng Hiệu được coi là người có trình độ, có hiểu biết trong xã hội lại viết “status” phỉ báng lãnh tụ Chủ tịch Cuba Fidel Castro, thể hiện sự vô ơn, vô cảm và đi ngược lại luân thường đạo lý của người Việt Nam là hành vi càng không thể chấp nhận được và cần phải bị lên án mạnh mẽ. Hiện nhà báo Phùng Hiệu đã bị đình chỉ chức vụ và mức độ vi phạm cụ thể như thế nào và chế tài xử lý kỷ luật ra sao sau khi cơ quan chức năng vào cuộc sẽ có câu trả lời rõ ràng, phù hợp với các quy định của luật pháp.
Không chỉ riêng Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, việc lợi dụng các quyền tự do ngôn luận để xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội đều không thể chấp nhận được và bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Tiêu biểu như, tại Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, luật pháp các nước này quy định nhiều tội danh như: “xúc phạm tổng thống”, “xúc phạm tổ quốc”... cùng các chế tài nghiêm khắc cho những người cố tình vi phạm.
Như vậy có thể thấy rằng, dù ở bất kỳ quốc gia, thể chế chính trị nào đi nữa, thì các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận không hề bị chối bỏ. Tuy nhiên, mọi quyền lợi đều phải gắn liền với nghĩa vụ và đặt trong những giới hạn, khuôn khổ phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội để bảo đảm rằng việc thực hiện quyền của người này không làm ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác.
Rõ ràng, quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam là không thể phủ nhận, xuyên tạc. Và những hành vi cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận để xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân cần phải bị lên án và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Đây là lẽ đương nhiên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế./.

RSF LẠI DÙNG ĐẾN CÁI GỌI “XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ” ĐỂ CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM

11:10 16 Comments
Vô Danh
Trong những ngày vừa qua, đám “dân chủ” trong nước như lên đồng về việc Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) đưa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào danh sách “kẻ thù của tự do truyền thông” và xếp Việt Nam đứng thứ 175 trong số 180 quốc gia “đàn áp tự do báo chí”. Chúng hả hê xuyên tạc rằng: Tại Việt Nam báo chí hoàn toàn bị cấm đoán, Internet bị theo dõi và kiểm soát chặt chẽ; Nhiều công dân mạng và blogger bị chính quyền đàn áp vì những cáo buộc mơ hồ…
Vậy thực hư vấn đề này thế nào?
Điều dễ nhận thấy, cái gọi là “xếp hạng tự do báo chí” mà Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) đưa ra mới đây vẫn không có nội dung gì quá mới mẻ khi vẫn bằng cách làm chủ quan, áp đặt, thiếu thiện chí RSF thường xuyên tự cho mình cái quyền xếp nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam vào hàng “có vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Rõ ràng, đây là một sự xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, vu cáo, bôi đen thực tế xã hội và thực trạng tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Trong khi đó, những năm gần đây dưới sự tài trợ, thao túng của Mỹ và các nhà tài phiệt phương Tây tôn chỉ, mục đích ban đầu mà Tổ chức Phóng viên không biên biên giới đã đề ra đang dần trở nên méo mó hơn bao giờ hết. Mặc dù, đang khoác lên mình cái nhãn hiệu bảo vệ quyền lợi của các nhà báo, nhưng trên thực tế, RSF không hề bảo vệ các nhà báo chân chính mà chỉ chăm chăm tiếp tay một số blogger và nhà báo giả danh để hoạt động chống phá chính quyền. Hằng năm, RSF đều tiến hành nhận xét, đánh giá về tình hình báo chí quốc tế, rồi tổ chức xếp hạng về mức độ “tự do” báo chí của một quốc gia (trong đó có Việt Nam) theo cảm nhận chủ quan của họ. Người ta không biết có bao nhiêu độ khách quan, chuẩn xác trong đó; chỉ biết rằng đã có không ít quốc gia phản đối, phê phán cách làm phiến diện, áp đặt của tổ chức này.
Cái gọi là “xếp hạng tự do báo chí” chỉ là chiêu trò can thiệp
vào công việc nội bộ nước khác của RSF (Ảnh Internet)
Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” là tuyệt đối; mọi quyền lợi đều phải gắn liền với nghĩa vụ và đặt trong những giới hạn, khuôn khổ phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội để bảo đảm rằng việc thực hiện quyền của người này không làm ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Tiêu biểu như: Tại khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhấn mạnh: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội”.
Tại Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi. Theo đó, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Luật Báo chí cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc “tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí…” “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.
Những năm qua, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng công chúng, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, năng lực tài chính cũng như sự tác động và ảnh hưởng xã hội tích cực của các cơ quan báo chí, truyền thông đều tăng nhanh. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, giai tầng, các hội nghề nghiệp, các giới, các tôn giáo lớn, các thành phần trong xã hội đề có tờ báo của mình.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông: Tính đến tháng 12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Mạng lưới phát thanh - truyền hình có 67 đài phát thanh - truyền hình Trung ương và địa phương. Hiện tại, Việt Nam có 178 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá, gồm 103 kênh chương trình truyền hình, 75 kênh chương trình phát thanh. Bên cạnh đó, tỷ lệ người dân sử dụng Internet cũng tăng lên đáng kể, tính đến đến tháng 12/2015, tại Việt Nam đã có 52% dân số sử dụng, cao hơn mức trung bình của khu vực châu Á (38,8%) và của thế giới (45%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 6 tại châu Á….
Ở Việt Nam, báo chí đã thật sự là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp; là diễn đàn và công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích và quyền tự do của các tầng lớp nhân dân. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có báo chí. Đồng thời, khi tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào, họ đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó nhằm đáp ứng nhu cầu và bảo đảm quyền được thông tin của mình. Chính vì lẽ đó, đông đảo các giai cấp, giai tầng xã hội ở Việt Nam tự thấy không có nhu cầu xuất bản báo chí tư nhân.
Như đã đề cập ở trên, tự do báo chí là một quyền có giới hạn. Lẽ đương nhiên, dù có tự do đến thế nào thì báo chí cũng phải hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, trong đó quan trọng là không được làm tổn hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều này thì chẳng riêng gì ở Việt Nam mà ở Mỹ, Pháp và các nước tiên tiến khác cũng yêu cầu như vậy. Những trường hợp mà RSF gọi là “các bloggers có tiếng nói đối lập bị đàn áp” như: Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay Hồ Hải mới đây… về bản chất chỉ là những người đã vi phạm khoản 3 Điều 19 và khoản 2 Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng như quy định của pháp luật Việt Nam. Việc những tổ chức, cá nhân cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân bị xử lý nghiêm minh, đây là lẽ đương nhên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Cho dù còn những định kiến, áp đặt sai lệch về tình hình thực tế của Việt Nam, song không ai có thể phủ nhận được những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do báo chí. Và đã đến lúc, Tổ chức Phóng viên không biên giới nên dừng các hoạt động săm soi, chỉ trích, đưa ra những thông tin sai sự thật về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam trong bảng “xếp hạng tự do báo chí” công bố hàng năm./.

ĐIỀU 88 BLHS VIỆT NAM CÓ “VI PHẠM NHÂN QUYỀN”?

14:40 13 Comments
Vô Danh
Ngày 14/10 vừa qua, ông Zeid Ra'ad Al Hussein thuộc Cao ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã bày tỏ “quan ngại” về vụ bắt giữ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức Blogger Mẹ Nấm) và lớn tiếng kêu gọi chính phủ Việt Nam “cần tuân thủ ràng buộc về luật nhân quyền và xóa bỏ điều 88 trong BLHS”.
Luận giải cho yêu cầu trên, ông Zeid Ra'ad Al Hussein cho rằng: “Điều 88 trên thực tế biến bất kỳ công dân Việt Nam nào cũng có tội khi họ dùng tự do căn bản để bày tỏ ý kiến, thảo luận hay chất vấn chính phủ và chính sách; Điều luật rộng khắp, không định nghĩa rõ ràng giúp quá dễ dàng để dập tắt mọi quan điểm trái chiều và tùy ý tạm giữ cá nhân dám chỉ trích chính sách của chính phủ”.
Rõ ràng, đây là những yêu cầu hết sức ấu trĩ và phi lý, bởi lẽ:
Vấn đề bảo đảm ANQG được quy định rất rõ trong Luật Nhân quyền quốc tế. Khoản 3 Điều 18; Điểm b, Khoản 3 Điều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị đề cập: Quyền tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến, hay tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là sự cần thiết cho việc bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác. Hay Điều 2385 Chương 115 BLHS Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi: “In ấn, xuất bản, biên tập, phát hành, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục, hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết, tham vọng, hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”.
Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp; mọi quyền lợi đều phải gắn liền với nghĩa vụ và đặt trong những giới hạn, khuôn khổ phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội để bảo đảm rằng việc thực hiện quyền của người này không làm ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác.
Luận điệu xuyên tạc được đài BBC Tiếng Việt đăng tải (Ảnh chụp màn hình)
Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân. Tuy nhiên, cũng như ở mọi nước khác trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để có các hành vi vi phạm pháp luật. “Ở Việt Nam không có đàn áp chính trị, không có ai bị bắt vì lý do chính kiến, tôn giáo, chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam”.
Điều 88 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là quy định tội về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Về mặt khách quan, hành vi tuyên truyền chống Nhà nước bao gồm: a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (hành vi nêu trên có thể thực hiện công khai hay bí mật). Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là cố ý trực tiếp và mục đích là nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Về mặt chủ thể, pháp luật quy định là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi nhất định
Như vậy có thể thấy, Điều 88 BLHS, quy định về “tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…” không nhằm chống lại quyền tự do ngôn luận của người dân mà nhằm, một mặt nghiêm trị những hành vi tuyên truyền có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, mặt khác chủ động phòng ngừa các hành vi tương tự gây tổn hại đến Nhà nước và chế độ xã hội. Qua đó có thể khẳng định, Điều luật 88 của BLHS Việt Nam hoàn toàn phù hợp với Luật Nhân quyền quốc tế.
Trong vụ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cơ quan điều tra có đủ căn cứ để khởi tố điều tra đối với nữ blogger này về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88 BLHS, cụ thể: Lợi dụng quyền tự do ngôn luận, Blogger Mẹ Nấm thường xuyên soạn thảo, đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, video có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ các cá nhân, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức; đưa ra cái nhìn bi quan một chiều, gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo đất nước của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Nói vậy để thấy, luận điệu cho rằng quy định tại Điều 88 BLHS là “mơ hồ, vi phạm nhân quyền” là hoàn toàn sai trái và cần kiên quyết loại bỏ./.